<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Công ty Tư Vấn Pháp Luật &#187; Điều ước quốc tế</title>
	<atom:link href="http://www.congtytuvanluat.com/tu-van-luat/van-ban-phap-luat/dieu-uoc-quoc-te-wto/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.congtytuvanluat.com</link>
	<description>www.congtytuvanluat.com</description>
	<lastBuildDate>Sat, 21 Aug 2010 08:49:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0.1</generator>
		<item>
		<title>Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp</title>
		<link>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-paris-ve-bao-ho-so-huu-cong-nghiep/</link>
		<comments>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-paris-ve-bao-ho-so-huu-cong-nghiep/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2009 03:09:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Điều ước quốc tế]]></category>
		<category><![CDATA[bảo hộ sở hữu công nghiệp]]></category>
		<category><![CDATA[Công ước Paris]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.congtytuvanluat.com/?p=80</guid>
		<description><![CDATA[Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp download Công ước này được ký tại Paris năm 1883, tính đến ngày 22.06.1999 đã có tới 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08.03.1949. Những điều khoản [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a id="link40" style="font-weight: bold;" onclick="return showPost(40)" href="http://luathoc.vn/phapluat/showthread.php?p=40#post40">Công  ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp download</a></p>
<p><span style="font-family: Arial,Times New Roman,Courier New,Verdana,Tahoma,sans-serif;"><span style="font-size: x-small;">Công ước này được ký tại Paris năm 1883, tính  đến ngày 22.06.1999 đã có tới 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành  thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày  08.03.1949. Những điều khoản chủ yếu của Công ước này tập trung vào các  vấn đề chủ yếu sau: </span></span><br />
<span style="font-family: Arial,Times New Roman,Courier New,Verdana,Tahoma,sans-serif;"><span style="font-size: x-small;">Đối xử quốc gia: Mỗi nước thành viên của Công  ước phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho công dân của các nước  thành viên khác như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho chính công dân  nước mình.<br />
Quyền ưu tiên: Nếu người nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp  nộp đơn đầu tiên của mình ở một nước thành viên của Công ước thì trong  thời hạn nhất định sau ngày nộp đơn đầu tiên (12 tháng đối với sáng chế  và mẫu hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) có  thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thành viên nào và những đơn nộp  sau được xem như có ngày nộp đơn cùng với ngày nộp đơn của đơn đầu  tiên. </span></span><br />
<span style="font-family: Arial,Times New Roman,Courier New,Verdana,Tahoma,sans-serif;"><span style="font-size: x-small;">Ngoài ra Công ước còn quy định một số điều  khoản bắt buộc mà các nước thành viên tuân thủ như tính độc lập của Bằng  độc quyền sáng chế do nhiều nước cấp cho cùng một sáng chế, quyền được  ghi tên vào Văn bằng bảo hộ của tác giả..</span></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-paris-ve-bao-ho-so-huu-cong-nghiep/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Công ước Berne quy định về bảo hộ các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật</title>
		<link>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-berne-quy-dinh-ve-bao-ho-cac-tac-pham-van-hoc-khoa-hoc-va-nghe-thuat/</link>
		<comments>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-berne-quy-dinh-ve-bao-ho-cac-tac-pham-van-hoc-khoa-hoc-va-nghe-thuat/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2009 03:04:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Điều ước quốc tế]]></category>
		<category><![CDATA[bảo hộ các tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Công ước Berne]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.congtytuvanluat.com/?p=77</guid>
		<description><![CDATA[Công ước Berne Bảo hộ các tác phẩm văn học  và nghệ thuật (Đạo luật Paris, ngày 24 tháng 7 năm 1971,Sửa đổi ngày 28 tháng 9 năm 1979) &#8212;&#8212;&#8212;&#8212; Các nước tham gia Liên Hiệp cùng xuất phát từ lòng mong muốn bảo hộ theo một phương thức hữu hiệu và nhất quán các [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Công ước Berne</strong></p>
<p align="center"><strong>Bảo  hộ các tác phẩm văn học  và nghệ thuật</strong></p>
<p align="center"><strong><em>(Đạo luật Paris, ngày 24 tháng 7 năm  1971,</em></strong><em><strong>Sửa  đổi ngày 28 tháng 9 năm 1979)</strong></em><em> </em></p>
<p align="center"><em><strong>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</strong></em></p>
<p>Các nước tham gia Liên  Hiệp cùng xuất phát từ lòng mong muốn bảo hộ theo một phương thức hữu  hiệu và nhất quán các quyền lợi của các tác giả đối với tác phẩm văn học  và nghệ thuật của họ,</p>
<p>Công nhận tầm quan trọng về kết quả  của Hội nghị xem xét lại văn bản họp ở Stockholm năm 1967,</p>
<p>Đã quyết định sửa đổi  Đạo Luật đã được Hội nghị Stockholm thông qua, đồng thời vẫn giữ nguyên  vẹn các Điều khoản từ 1 đến 20 và từ 22 đến 26 của Đạo Luật đó .</p>
<p>Kết quả là, những đại  biểu toàn quyền ký tên dưới đây, sau khi xuất trình thư uỷ nhiệm toàn  quyền của mình và được công nhận là hợp lệ, đã thoả thuận:</p>
<p align="center"><strong>Điều  1</strong></p>
<p align="center"><strong>[Thành  lập một Liên hiệp]<span id="more-77"></span></strong></p>
<p>Các nước áp dụng Công ước này hợp  thành một Liên hiệp để bảo hộ các quyền của tác giả đối với các tác phẩm  văn học và nghệ thuật của họ.</p>
<p align="center"><strong>Điều 2</strong></p>
<p align="center"><strong>[Tác phẩm được bảo hộ: 1. Tác phẩm  văn học và nghệ thuật; 2. Khả năng yêu cầu sự định hình. 3. Tác phẩm  phái sinh; 4. Văn bản chính thức; 5. Sưu tập; 6. Nghĩa vụ bảo hộ, chủ  thể hưởng sự bảo hộ; 7. Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và thiết kế công  nghiệp; 8. Tin tức.]</strong></p>
<p>1. Thuật ngữ &#8220;<em>Các tác phẩm  văn học và nghệ thuật</em>&#8221; bao gồm tất cả các sản phẩm trong  lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo  phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, sách pample và  các bài viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các  tác phẩm khác cùng chủng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác  phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác  phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một  quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa,  kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong  đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự  quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ,  đồ án, phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan  đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học.</p>
<p>2.  Tuy nhiên, luật pháp Quốc gia thành viên của Liên hiệp có thẩm quyền  quyết định không bảo hộ các tác phẩm nói chung hoặc một số thể loại cụ  thể nào đó, trừ phi các tác phẩm ấy đã được ấn định bằng một hình thái  vật chất.</p>
<p>3.  Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác từ  một tác phẩm văn học nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc mà  không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc.</p>
<p>4. Luật pháp Quốc gia  là thành viên Liên hiệp có thẩm quyền quy định việc bảo hộ đối với các  văn bản chính thức của Nhà nước về lập pháp, hành pháp hay tư pháp cũng  như các bản dịch chính thức của các văn bản đó.</p>
<p>5. Các tuyển tập các  tác phẩm văn học nghệ thuật, chẳng hạn như các bộ bách khoa từ điển và  các hợp tuyển, nhờ phương pháp chọn lọc và kết cấu tư liệu mà tạo thành  một sáng tạo trí tuệ, cũng được bảo hộ như một tác phẩm mà không phương  hại đến quyền tác giả của các tác phẩm tạo nên các hợp tuyển này.</p>
<p>6. Các tác phẩm nói  trong Điều 2 này được hưởng sự bảo hộ ở tất cả các nước thành viên của  Liên hiệp. Sự bảo hộ này dành cho tác giả và những người thừa kế sở hữu  quyền tác giả.</p>
<p>7. Luật pháp quốc gia là thành viên của Liên hiệp có quyền quy  định lĩnh vực áp dụng luật đối với các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng,  thiết kế công nghiệp và các mô hình công nghiệp; quyết định những điều  kiện để các tác phẩm này được bảo hộ, miễn là phải phù hợp với Điều 7  (4) của Công ước này. Những tác phẩm nào chỉ được bảo hộ như một thiết  kế và mô hình công nghiệp ở quốc gia gốc, thì cũng chỉ được hưởng quyền  bảo hộ đặc biệt dành cho loại đó ở một quốc gia khác trong Liên hiệp.  Tuy nhiên, nếu quốc gia này không có sự bảo hộ đặc biệt nói trên, thì  các tác phẩm ấy sẽ được bảo hộ như những tác phẩm nghệ thuật khác.</p>
<p>8. Sự bảo hộ theo Công  ước này không áp dụng cho những tin tức hàng ngày hay sự kiện/số liệu  vụn vặt chỉ mang tính chất thông tin báo chí.</p>
<p align="center"><strong>Điều  2 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Sự hạn chế bảo hộ có thể có đối với một số loại tác phẩm: 1. Một số bài  diễn văn; 2. Một số hình thức sử dụng bài giảng, bài phát biểu; 3. Quyền  làm tuyển tập những tác phẩm loại này].</strong></p>
<p>1. Luật pháp quốc gia  là thành viên của Liên hiệp có thẩm quyền miễn trừ toàn phần hoặc bộ  phận sự bảo hộ được quy định tại Điều trên đối với các bài diễn văn  chính trị hay những bài phát biểu trong những buổi tranh luận về tư  pháp.</p>
<p>2. Luật pháp quốc gia là thành viên  Liên hiệp cũng có quyền quy định những điều kiện để những bài diễn văn,  thuyết trình và những tác phẩm cùng loại đã trình bày trước công chúng,  được đăng báo, phát sóng, phổ biến đến quần chúng bằng đường dây hoặc  băng phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 11 bis (1) của Công ước  này, miễn là sự sử dụng ấy thực sự nhằm mục đích thông tin.</p>
<p>3. Tuy nhiên, tác giả  có quyền làm bộ sưu tập các tác phẩm đã nói ở những khoản trên đây.</p>
<p align="center"><strong>Điều 3</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Tiêu chí về tư cách được bảo hộ:  1. Quốc tịch của các tác giả; nơi công bố tác phẩm; 2. Nơi thường trú  của tác giả; 3. Tác phẩm đã công bố; 4. Tác phẩm công bố đồng thời].</strong></p>
<p>1. Công ước này bảo hộ:</p>
<p>a. Tác phẩm của các  tác giả là công dân của một trong những nước thành viên của Liên hiệp dù  những tác phẩm đó đã công bố hay chưa;</p>
<p>b. Tác phẩm của các tác giả không phải là công dân của một trong những  nước thành viên của Liên hiệp được công bố lần đầu tiên ở một trong  những nước thành viên của Liên hiệp, hay đồng thời công bố ở một nước  trong và một nước ngoài Liên hiệp.</p>
<p>2. Các tác giả không phải là công  dân của một nước thành viên Liên hiệp nhưng có nơi cư trú thường xuyên ở  một trong những nước trên, theo mục đích của Công ước, cũng được coi  như là tác giả công dân của nước thành viên đó.</p>
<p>3. &#8220;<em>Tác phẩm  đã công bố</em> &#8221; là những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng  ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là  sự ra đời của các bản đó đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng, tuỳ  theo bản chất của tác phẩm. Trình diễn một tác phẩm sân khấu, nhạc kịch  hay hoà tấu, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng một tác  phẩm văn học, phát thanh hay truyền hình một tác phẩm văn học hay nghệ  thuật, triển lãm một tác phẩm nghệ thuật hay xây dựng một tác phẩm kiến  trúc không được coi là công bố.</p>
<p>4. Được coi là công bố đồng thời ở  nhiều nước: những tác phẩm được công bố ở hai hay nhiều nước trong vòng  30 ngày kể từ lần công bố đầu tiên.</p>
<p align="center"><strong>Điều 4</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Tiêu chuẩn bảo hộ đối  với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm kiến trúc và một số tác phẩm nghệ  thuật]</strong></p>
<p>Được Công ước này bảo hộ mặc dầu không đáp ứng được những điều  kiện nêu ở Điều 3:</p>
<p>a. Các tác phẩm của tác  giả điện ảnh mà nhà sản xuất có trụ sở hay thường trú ở một trong những  nước thành viên của Liên hiệp;</p>
<p>b. Các tác giả của tác  phẩm kiến trúc được xây dựng trong một nước thuộc Liên hiệp hoặc những  tác phẩm tạo hình gắn liền với một tòa nhà được xây dựng trong một nước  thuộc Liên hiệp.</p>
<p align="center"><strong>Điều 5</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Đảm bảo quyền: 1 và 2. Bên ngoài  quốc gia gốc; 3. Tại quốc gia gốc; 4.</strong> “ <strong>Quốc gia gốc” ]</strong></p>
<p>1. Đối với những  tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các tác giả được hưởng quyền tác giả ở  các nước Liên hiệp không phải là quốc gia gốc của tác phẩm, những quyền  do luật của nước đó dành cho công dân của mình trong hiện tại và trong  tương lai cũng như những quyền mà Công ước này đặc biệt quy định.</p>
<p>2. Sự thụ hưởng và thực hiện các  quyền này không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào; sự thụ hưởng và  thực hiện này hoàn toàn độc lập không phụ thuộc vào việc tác phẩm có  được bảo hộ hay không ở Quốc gia gốc của tác phẩm. Do đó, ngoài những  quy định của Công ước này, mức độ bảo hộ cũng như các biện pháp khiếu  nại dành cho tác giả trong việc bảo hộ quyền của mình sẽ hoàn toàn do  quy định của luật pháp của nước công bố bảo hộ tác phẩm đó.</p>
<p>3. Sự bảo hộ trong quốc  gia gốc do luật pháp của quốc gia đó quy định. Tuy nhiên, khi tác giả  không phải là công dân của quốc gia gốc của tác phẩm được Công ước này  bảo hộ, thì tác giả đó được hưởng trong quốc gia này những quyền như các  tác giả công dân nước đó.</p>
<p>4. Những nước được coi là Quốc gia  gốc:</p>
<p>(a).  Quốc gia thành viên Liên hiệp, nơi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.  Tuy nhiên, nếu là tác phẩm được công bố đồng thời ở nhiều nước thành  viên Liên hiệp với thời hạn bảo hộ khác nhau, quốc gia gốc của tác phẩm  là quốc gia có thời hạn bảo hộ ngắn nhất;</p>
<p>(b). Nếu các tác phẩm cùng công bố  đồng thời ở một quốc gia Liên hiệp và một quốc gia ngoài Liên hiệp thì  quốc gia thành viên Liên hiệp là quốc gia gốc;</p>
<p>(c). Nếu tác phẩm chưa  công bố  hay đã công bố lần đầu tiên ở một nước ngoài Liên  hiệp mà không đồng thời công bố ở một nước nào thuộc Liên hiệp thì quốc  gia gốc là quốc gia thành viên Liên hiệp mà tác giả là công dân, với  điều kiện là:</p>
<p>i. Nếu là một tác phẩm điện ảnh mà nhà sản xuất  có trụ sở hay nơi thường trú trong một nước thuộc Liên hiệp thì nước đó  sẽ là quốc gia gốc của tác phẩm, và</p>
<p>ii. Nếu là một tác  phẩm kiến trúc dựng lên tại một nước thuộc Liên hiệp hay những tác phẩm  hội họa hoặc tạo hình gắn liền với một tòa nhà hoặc một cấu trúc đặt tại  một nước thuộc Liên hiệp thì nước này sẽ là quốc gia gốc của tác phẩm.</p>
<p align="center"><strong>Điều 6</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Khả năng hạn chế sự bảo hộ đối với  một số tác phẩm của công dân một số nước ngoài Liên hiệp: 1. Tại nước  công bố lần đầu và tại những nước khác; 2. Không có hiệu lực hồi tố; 3.  Thông báo]</strong></p>
<p>1. Khi một nước ngoài Liên hiệp không bảo hộ đúng mức những tác  phẩm của các tác giả là công dân của một nước thuộc Liên hiệp thì nước  thành viên này có thể hạn chế sự bảo hộ các tác phẩm ngay khi công bố  lần đầu tiên của tác giả là công dân của nước ngoài Liên hiệp đó và  không phải là người thường trú ở một nước nào thuộc Liên hiệp. Nếu Quốc  gia nơi tác phẩm được công bố lần đầu tiên áp dụng biện pháp này, các  nước khác trong Liên hiệp không bắt buộc phải dành cho những tác phẩm bị  đối xử đặc biệt như thể một sự bảo hộ rộng rãi hơn sự bảo hộ của quốc  gia nơi công bố lần tiên.</p>
<p>2. Những hạn chế quy  định ở khoản trên đây không được ảnh hưởng đến các quyền mà một tác giả  được hưởng đối với tác phẩm đã công bố trong một nước thuộc Liên hiệp  trước khi sự hạn chế này có hiệu lực.</p>
<p>3. Những nước thành viên Liên hiệp  nếu muốn áp dụng Điều khoản này để hạn chế các quyền của tác giả sẽ  thông báo điều đó cho Tổng giám đốc Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (sau  đây gọi tắt là Tổng giám đốc) bằng một văn bản trong đó nêu rõ tên  những nước bị hạn chế quyền bảo hộ và những loại quyền công dân nước đó  bị hạn chế. Tổng giám đốc sẽ lập tức thông báo văn bản trên cho tất cả  các nước thành viên Liên hiệp.</p>
<p align="center"><strong>Điều 6 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Quyền tinh thần: 1.  Đứng tên tác giả; phản đối một số sự sửa đổi và hành vi xuyên tạc khác;  2. Sau khi tác giả chết; 3. Phương thức đền bù]</strong></p>
<p>1. Độc lập với quyền  kinh tế của tác giả và cả sau khi quyền này đã được chuyển nhượng, tác  giả vẫn giữ nguyên quyền được đòi thừa nhận mình là tác giả của tác phẩm  và phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi hoặc những vi phạm  khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và tiếng tăm  tác giả.</p>
<p>2. Sau khi tác giả chết, những quyền  tác giả được hưởng theo quy định của các khoản trên đây vẫn được duy  trì ít nhất cho đến khi chấm dứt các quyền kinh tế và được sử dụng bởi  những cá nhân hoặc đoàn thể được ủy quyền theo pháp luật của nước bảo  hộ. Những quốc gia mặc dù có phê chuẩn, hoặc gia nhập Đạo luật này nhưng  luật pháp của họ không có các quy định bảo hộ tất cả những quyền nói ở  khoản (1) trên đây sau khi tác giả qua đời, các quốc gia đó có thể quy  định chấm dứt một phần các quyền nói trên sau khi tác giả chết.</p>
<p>3. Những biện pháp  khiếu nại nhằm bảo hộ những quyền nêu trong Điều này sẽ được quy định  bởi luật pháp của quốc gia nơi công bố bảo hộ.</p>
<p align="center"><strong>Điều  7</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Thời hạn bảo hộ: 1. Qui định chung; 2. Đối với tác phẩm điện ảnh; 3. Đối  với tác phẩm đề bút danh, khuyết danh; 4. Tác phẩm nhiếp ảnh và mỹ  thuật ứng dụng; 5. Ngày bắt đầu tính thời hạn; 6. Thời hạn dài hơn; 7.  Thời hạn ngắn hơn; 8. Luật áp dụng ; </strong>“<strong> so sánh</strong>” <strong>thời hạn]</strong></p>
<p>1. Thời hạn bảo hộ theo  Công ước này sẽ là suốt cuộc đời của tác giả và năm mươi năm sau khi  tác giả chết.</p>
<p>2. Tuy  nhiên đối với những tác phẩm điện ảnh, các quốc gia thành viên Liên hiệp  có thể quy định chấm dứt thời hạn bảo hộ sau 50 năm, tính từ khi tác  phẩm được phổ cập đến công chúng, với sự đồng ý của tác giả, hoặc nếu  không có sự phổ cập như thế trong vòng 50 năm tính từ ngày thực hiện tác  phẩm, thì thời hạn bảo hộ chấm dứt 50 năm sau khi tác phẩm được thực  hiện.</p>
<p>3.  Đối với những tác phẩm khuyết danh hay bút danh, thời hạn bảo hộ do Công  ước này quy định chấm dứt là 50 năm sau khi tác phẩm được phổ cập đến  công chúng một cách hợp pháp. Tuy nhiên, khi bút danh tác giả biểu lộ  không chút hoài nghi về danh tích của tác giả thì thời hạn bảo hộ là  thời hạn quy định ở khoản (1). Nếu tác giả một tác phẩm khuyết danh hay  bút danh tiết lộ danh tính của mình trong thời gian đã nói ở trên, thời  hạn bảo hộ là thời hạn được quy định ở khoản (1). Các quốc gia thành  viên Liên hiệp không bắt buộc phải bảo hộ những tác phẩm khuyết danh hay  bút danh khi có đủ lý do cho rằng tác giả của tác phẩm đó đã chết được  50 năm.</p>
<p>4.  Luật pháp của quốc gia thành viên Liên hiệp có thẩm quyền quy định thời  hạn bảo hộ các tác phẩm nhiếp ảnh và các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng coi  như tác phẩm nghệ thuật; tuy nhiên, thời hạn này kéo dài ít nhất 25 năm  kể từ khi tác phẩm được thực hiện.</p>
<p>5. Thời hạn bảo hộ sau khi tác giả  chết và những thời hạn nói ở khoản 2, 3 và 4 trên đây được bắt đầu từ  lúc tác giả chết hay từ những sự kiện đã nói ở trên. Tuy nhiên, thời hạn  hạn định chỉ được tính từ ngày mồng 1 tháng giêng năm tiếp theo sau cái  chết hay sự kiện.</p>
<p>6. Các nước thành viên Liên hiệp có  thể quy định một thời hạn bảo hộ dài hơn các thời hạn quy định ở những  khoản trên đây.</p>
<p>7. Những nước thành viên Liên hiệp bị ràng buộc bởi Đạo luật Roma  của Công ước này mà vào thời điểm ký kết Đạo luật này quy định trong  Luật quốc gia hiện hành thời hạn bảo hộ ngắn hơn thời hạn quy định ở các  Đoạn trên, thì nước đó có thể giữ thời hạn ngắn hơn đó khi gia nhập hay  phê chuẩn Đạo luật này.</p>
<p>8. Trong bất kỳ trường hợp nào thời  hạn bảo hộ sẽ do luật pháp của nước công bố bảo hộ quy định. Tuy nhiên,  nếu luật pháp của nước đó không có những quy định khác thì thời hạn bảo  hộ sẽ không quá thời hạn được quy định ở quốc gia gốc của tác phẩm.</p>
<p align="center"><strong>Điều 7 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[Thời hạn bảo hộ đối  với tác phẩm đồng tác giả]</strong></p>
<p>Những quy định của Điều khoản trên  cũng được áp dụng cho tác phẩm đồng tác giả, nhưng thời hạn bảo hộ sau  khi chết được tính đến khi tác giả cuối cùng chết.</p>
<p align="center"><strong>Điều 8</strong></p>
<p align="center"><strong>[Quyền dịch]</strong></p>
<p>Tác giả của các tác  phẩm văn học nghệ thuật được Công ước này bảo hộ được toàn quyền dịch  hay cho phép dịch tác phẩm của mình trong suốt thời hạn hưởng quyền bảo  hộ đối với các tác phẩm nguyên tác của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều 9</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Quyền sao chép: 1. Qui định chung;  2. Các ngoại lệ có thể có; 3. Ghi âm và ghi hình]</strong></p>
<p>1. Tác giả có các  tác phẩm văn học nghệ thuật được Công ước này bảo hộ, được toàn quyền  cho phép sao in các tác phẩm đó dưới bất kỳ phương thức, hình thức nào.</p>
<p>2. Luật pháp quốc gia thành viên  Liên hiệp, trong một vài trường hợp đặc biệt, có quyền cho phép sao in  những tác phẩm nói trên, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc  khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến  những quyền lợi hợp pháp của tác giả.</p>
<p>3. Ghi âm hay ghi hình đều được xem  là sao in theo định nghĩa của Công ước này.</p>
<p align="center"><strong>Điều  10</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Một số sử dụng tự do tác phẩm: 1. Trích dẫn; 2. Minh hoạ phục vụ giảng  dạy; 3. Chỉ dẫn nguồn gốc và tác giả]</strong></p>
<p>1. Được coi là hợp pháp  những trích dẫn rút từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một  cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng  đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn, kể cả những trích dẫn các bài  báo và tập san định kỳ dưới hình thức điểm báo.</p>
<p>2. Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp và những hiệp định đặc  biệt đã có sẵn hoặc sẽ ký kết giữa các quốc gia này có thẩm quyền cho  phép sử dụng có mục đích, những tác phẩm văn học hay nghệ thuật bằng  cách minh họa các xuất bản phẩm, phát sóng, ghi âm hoặc ghi hình để  giảng dạy, miễn sao việc làm đó phù hợp với thông lệ đúng đắn.</p>
<p>3. Khi sử dụng tác phẩm  như đã nói ở các khoản trong Điều trên đây phải ghi rõ nguồn gốc tác  phẩm và tên tác giả, nếu có.</p>
<p align="center"><strong>Điều 10 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Các loại sử dụng tự  do hợp pháp khác về tác phẩm: 1. Một số bài báo và tác phẩm phát sóng;  2. Đối với tác phẩm nghe nhìn gắn với tin thời sự]</strong></p>
<p>1. Luật pháp quốc gia  thành viên Liên hiệp có thẩm quyền cho phép in lại trên báo chí, phát  trên sóng hoặc thông tin đường dây những bài báo có tính chất thời sự về  kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên báo chí hoặc tập san,  hoặc các tác phẩm đã phát sóng có tính chất tương tự, với điều kiện  những tác phẩm đó không phải là những tác phẩm mà tác giả đích danh giữ  bản quyền.</p>
<p>Tuy nhiên, bao giờ cũng  phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm. Vi phạm nghĩa vụ này sẽ bị xét xử theo  luật của quốc gia công bố bảo hộ.</p>
<p>2. Luật quốc gia thành viên Liên  hiệp có thẩm quyền quy định điều kiện sao in và phổ cập những tác phẩm  văn học nghệ thuật nghe nhìn, dưới hình thức nhiếp ảnh, điện ảnh, phát  sóng hoặc thông tin đường dây để phục vụ  cho mục đích  thông tin với mức độ sử dụng thông tin đã được thống nhất.</p>
<p align="center"><strong>Điều  11</strong></p>
<p align="center"><strong>[Một  số quyền đối với tác phẩm kịch và âm nhạc: 1. Quyền trình diễn và  truyền phát tới công chúng một cuộc trình diễn; 2. Bản dịch]</strong></p>
<p>1. Tác giả các tác phẩm  kịch, nhạc kịch và ca nhạc được hưởng toàn quyền ủy thác quyền :</p>
<p>i. Trình diễn công cộng tác phẩm của  mình, sử dụng bất cứ phương tiện hoặc kỹ thuật nào</p>
<p>ii. Truyền phát tới  công chúng những cuộc trình diễn đó bằng bất kỳ một phương pháp nào.</p>
<p>2. Các tác giả của các  tác phẩm kịch và nhạc kịch trong suốt thời gian sở hữu các quyền đối với  nguyên tác, được hưởng tất cả những quyền nói trên đối với bản dịch các  tác phẩm đó của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều 11 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Phát sóng và quyền  liên quan: 1. Phát sóng và truyền thông vô tuyến khác, truyền thông hữu  tuyến cuộc phát sóng hoặc tái phát sóng, truyền thông cuộc phát sóng tới  công chúng bằng loa hoặc phương tiện tương tự; 2. Giấy phép qui định  bắt buộc; 3. Ghi, ghi thử]</strong></p>
<p>1. Các tác giả các tác phẩm văn học  và nghệ thuật được hưởng quyền độc quyền cho phép:</p>
<p>(i).  Phát sóng hoặc  truyền phát tới công chúng các tác phẩm của mình bằng bất cứ phương tiện  vô tuyến nào khác nhằm phổ biến các ký hiệu, âm thanh hay hình ảnh.</p>
<p>(ii). Mọi cuộc  truyền phát tới công chúng tác phẩm của mình qua phát sóng hữu tuyến  hoặc tái phát sóng do một cơ quan khác với cơ quan phát sóng đầu tiên  thực hiện.</p>
<p>(iii).Truyền phát tới công chúng tác phẩm của mình bằng loa hoặc   công cụ truyền phát tương tự để truyền ký hiệu, âm thanh hay  hình ảnh.</p>
<p>2.  Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp có quyền quy định những điều  kiện  áp dụng những quyền nói ở khoản (1) trên đây. Nhưng  những điều kiện đó chỉ được áp dụng ở quốc gia ban hành. Dù bất kỳ  trường hợp nào, những điều kiện đó cũng không được vi phạm quyền tinh  thần của tác giả, cũng như quyền tác giả được nhận thù lao thích đáng do  cơ quan có trách nhiệm quy định, ngay cả trong trường hợp không có văn  bản thoả thuận.</p>
<p>3. Nếu không có quy định khác thì việc cho phép sử dụng nói ở  khoản (1) của Điều này không bao hàm việc cho phép dùng phương tiện thu  âm hoặc ghi hình để ghi lại tác phẩm được phát sóng. Tuy nhiên, luật  pháp quốc gia thành viên Liên hiệp có thẩm quyền quy định việc ghi âm  nhất thời bằng những thiết bị riêng do chính cơ quan phát sóng thực hiện  để dùng cho các buổi phát sóng của mình. Việc lưu giữ các bản ghi nói  trên tại cơ quan lưu trữ của nhà nước có thể được luật pháp cho phép nếu  bản ghi đó có giá trị đặc biệt về mặt tư liệu</p>
<p align="center"><strong>Điều  11 (phần kết)</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Một số quyền đối với tác phẩm văn học:1. Quyền thuật lại và truyền</strong></p>
<p align="center"><strong> phát tới công chúng;  2. Bản dịch]</strong></p>
<p>1. Tác giả các tác phẩm văn học được  hưởng quyền độc quyền cho phép:</p>
<p>(i). Đọc trước  công chúng tác phẩm của mình, bao gồm cả việc sử dụng bất cứ phương pháp  và kỹ thuật nào;</p>
<p>(ii). Truyền phát bản đọc tác phẩm của mình tới công chúng.</p>
<p>2. Tác giả các tác phẩm  văn học, trong suốt thời gian sở hữu các quyền đối với tác phẩm gốc của  mình cũng được hưởng những quyền nói trên đối với những bản dịch tác  phẩm đó.</p>
<p align="center"><strong>Điều 12</strong></p>
<p align="center"><strong>[Quyền phóng tác, cải biên, chuyển  thể]</strong></p>
<p>Tác giả các tác phẩm văn học và nghệ thuật được hưởng toàn quyền  ủy thác quyền phóng tác, chuyển thể hay cải biên từ tác phẩm của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều 13</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Hạn chế khả năng đối  với quyền ghi âm tác phẩm âm nhạc và lời kèm theo: 1. Giấy phép bắt  buộc; 2. Biện pháp tạm thời; 3. Tịch thu bản sao nhập khẩu không được  tác giả cho phép]</strong></p>
<p>1. Mọi quốc gia thành viên Liên hiệp  có thể quy định quyền bảo lưu của mình và ra điều kiện có liên quan đến  quyền tác giả của bản nhạc và quyền tác giả của lời bài hát được tác  giả cho phép ghi âm cùng với nhạc. Tuy nhiên mọi quyền bảo lưu và những  điều kiện đó chỉ được áp dụng ở nước đặt ra quy định ấy, và dù trong bất  cứ trường hợp nào cũng không được vi phạm quyền tinh thần  của  tác giả cũng như quyền tác giả được nhận thù lao thích đáng do cơ quan  có trách nhiệm ấn định, ngay cả trong trường hợp không có văn bản thỏa  thuận</p>
<p>2. Những bản ghi nhạc phẩm đã được  thực hiện trong một quốc gia thành viên Liên hiệp  theo  Điều khoản 13 (3) của Công ước ký kết ở Rôme ngày 2/6/1928, ở Bruxelles  ngày 26/6/1948 có thể được sao in trong nước mà không cần có sự đồng ý  của tác giả của nhạc phẩm đó trong vòng hai năm tính từ ngày Đạo luật  này của Công ước có hiệu lực đối với quốc gia đó.</p>
<p>3. Những bản sao được  thực hiện theo khoản 1 và 2 của Điều này và được nhập cảng không có phép  của các bên hữu quan vào một quốc gia nơi mà các bản sao như thế không  được xem là hợp pháp, thì có thể tịch thu.</p>
<p align="center"><strong>Điều  14</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Điện ảnh và quyền liên quan:1. Phóng tác điện ảnh và sao chép; phân  phối; trình diễn công cộng và truyền thông phát hữu tuyến công cộng tác  phẩm đã phóng tác hoặc sao chép; 2. Phóng tác sản phẩm điện ảnh; không  cấp giấy phép bắt buộc]</strong></p>
<p>1. Tác giả các tác phẩm văn học hay  nghệ thuật được hưởng toàn quyền ủy thác quyền:</p>
<p>(i). Phóng tác và quay phim các tác  phẩm của mình và cho phát hành những tác phẩm đã phóng tác hay sao chép  đó;</p>
<p>(ii). Trình diễn công cộng và truyền  phát tới công chúng bằng đường dây những tác phẩm đã phóng tác hay sao  chép.</p>
<p>2.  Phóng tác dưới bất kỳ hình thức nghệ thuật nào những bộ phim có cốt  truyện lấy từ những tác phẩm văn học hay nghệ thuật, tuy không vi phạm  sự ủy thác của các tác giả đã thực hiện bộ phim, nhưng vẫn phải lệ thuộc  vào sự cho phép của các tác giả của  nguyên tác.</p>
<p>3. Những quy định ở  Điều khoản 13 (1) sẽ không áp dụng ở đây.</p>
<p align="center"><strong>Điều  14 (bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Qui định đặc biệt về tác phẩm điện ảnh: 1. Coi như tác phẩm gốc; </strong></p>
<p align="center"><strong>2. Quyền sở hữu; hạn chế một số  quyền của một số người đóng góp; </strong></p>
<p align="center"><strong>3.  Một số người đóng góp khác]</strong></p>
<p>1. Các tác phẩm điện ảnh được bảo hộ  như một nguyên tác nếu nó không vi phạm quyền tác giả của các tác phẩm  đã dùng để phóng tác hay sao chép. Người sở hữu quyền tác giả đối với  tác phẩm điện ảnh được hưởng những quyền giống như tác giả của tác phẩm  gốc kể cả quyền đã nói ở Điều khoản trên đây.</p>
<p>2(a).  Luật pháp của quốc gia công bố bảo hộ có thẩm quyền quy định quyền sở  hữu đối với các tác phẩm điện ảnh.</p>
<p>(b) Tuy nhiên, ở những nước thành  viên Liên Hiệp có Luật pháp quy định là những người sở hữu quyền tác giả  đối với một tác phẩm điện ảnh bao gồm cả các tác giả đã góp phần sáng  tạo tác phẩm, thì các tác giả đó, nếu đã cam kết tham gia đóng góp như  vậy, sẽ không được ngăn cản đối với việc sao bản, phát hành, công diễn,  phổ biến hữu tuyến, phát sóng hay bất kỳ hình thức công bố nào khác tới  công chúng, hoặc việc làm phụ đề, lồng tiếng tác phẩm điện ảnh, trừ phi  có quy định ngược lại hay đặc biệt nào khác</p>
<p>(c) Hình thức của sự  cam kết nói trên trong việc áp dụng khoản (b), phải là hợp đồng thành  văn bản hoặc một văn bản tương tự hay không là do luật pháp của quốc gia  nơi nhà sản xuất phim đặt trụ sở hay thường trú quy định. Tuy nhiên,  luật pháp của các quốc gia thành viên Liên hiệp nơi công bố sự bảo hộ có  thẩm quyền quy định là sự cam kết nói trên phải là một hợp đồng thành  văn bản hay một văn bản tương tự. Những nước có luật pháp quy định như  vậy phải báo cho Tổng giám đốc bằng văn bản. Tổng giám đốc thông báo cho  tất cả các nước thành viên Liên hiệp về văn bản này.</p>
<p>(d) Thuật ngữ &#8220;<em>Ngược  lại hay đặc biệt</em>&#8221; nghĩa là tất cả mọi điều kiện hạn chế  được nêu lên trong việc cam kết.</p>
<p>3. Trừ trường hợp luật pháp quốc gia  thành viên quy định khác so với những quy định ở khoản 2(b) trên đây,  khoản này không  áp dụng đối với các tác giả của kịch bản,  đối thoại và nhạc phẩm sáng tác cho tác phẩm điện ảnh, và cũng không áp  dụng đối với đạo diễn chính. Tuy nhiên những quốc gia thành viên Liên  hiệp mà Luật pháp không có quy định  áp dụng khoản 2(b) nói  trên đối với đạo diễn chính, phải báo cho Tổng giám đốc bằng một văn  bản. Tổng giám đốc thông báo cho tất cả các nước thành viên Liên hiệp về  văn bản này</p>
<p align="center"><strong>Điều 14 (ter)</strong></p>
<p align="center"><strong>[</strong>“<strong>Quyền tiếp theo</strong>”<strong> đối với tác phẩm mỹ thuật và  bản thảo: 1. Quyền hưởng lợi nhuận chuyển nhượng; 2. Luật áp dụng; 3.  Thủ tục]</strong></p>
<p>1. Đối với bản gốc các tác phẩm nghệ  thuật và  bản thảo gốc của nhà văn và nhà soạn nhạc thì  tác giả hoặc sau khi tác giả chết, những cá nhân hoặc đoàn thể được sở  hữu quyền tác giả theo luật pháp quốc gia được hưởng quyền không được  chuyển nhượng đối với lợi nhuận khi bán các tác phẩm đó sau khi tác giả  đã chuyển nhượng lần đầu.</p>
<p>2. Sự bảo hộ nói ở  khoản trên đây chỉ có hiệu lực trong các nước thành viên Liên Hiệp nếu  luật pháp quốc gia của tác giả thừa nhận sự bảo hộ đó và ở mức độ luật  pháp quốc gia nơi công bố sự bảo hộ cho phép.</p>
<p>3. Những thể thức và  mức thu tiền do luật pháp của mỗi quốc gia quy định.</p>
<p align="center"><strong>Điều  15</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Quyền thực thi quyền được bảo hộ: 1. Trường hợp tên tác giả được xác  định rõ hoặc khi bút danh không gây nghi ngờ về danh tính của tác giả;  2. Tác phẩm điện ảnh; 3. Tác phẩm khuyết danh hoặc bút danh; 4. Một số  tác phẩm chưa công bố và không rõ tác giả]</strong></p>
<p>1. Để được thừa nhận là  tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật hưởng sự bảo hộ của Công  ước này và được khởi kiện những người vi phạm tác phẩm của mình trước  Toà án ở các nước thành viên Liên hiệp, nếu không có bằng chứng ngược  lại, tác giả chỉ cần ghi tên mình trên tác phẩm theo như thông lệ. Khoản  này cũng áp dụng cả khi tên tác giả là một bút hiệu nếu bút hiệu tác  giả dùng không gây nên một nghi vấn nào về danh tính thật của tác giả.</p>
<p>2. Một cá nhân hay một tổ chức có  tên ghi trên tác phẩm theo như thông lệ, được xem là nhà sản xuất điện  ảnh, trừ khi có bằng chứng ngược lại,</p>
<p>3. Đối với những tác phẩm khuyết  danh và những tác phẩm bút danh, khác với những tác phẩm đã nói ở khoản  (1) trên đây, Nhà xuất bản có tên ghi trên tác phẩm được thừa nhận là  đại diện của tác giả mà không cần bằng chứng gì khác. Với tư cách này,  Nhà xuất bản hưởng quyền được bảo hộ và thực thi quyền của tác giả. Qui  định của khoản này sẽ hết hiệu lực khi  tác giả tiết lộ  danh tính và chứng minh được mình là tác giả.</p>
<p>4 (a). Trong trường hợp  những tác phẩm chưa xuất bản mà chưa biết ai là tác giả, nhưng có đủ cơ  sở để cho rằng tác giả là công dân một nước thành viên Liên hiệp, thì  luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp có khả năng chỉ định một cơ quan  có thẩm quyền đại diện cho tác giả và có thẩm quyền bảo hộ, thực thi  quyền tác giả trong các nước thành viên Liên hiệp.</p>
<p>(b). Những quốc gia  thành viên Liên hiệp muốn chỉ định cơ quan đại diện theo quy định này  phải thông báo cho Tổng giám đốc bằng một văn bản ghi rõ chi tiết về cơ  quan đại diện  được chỉ định. Tổng giám đốc  thông  báo cho tất cả các nước thành viên Liên hiệp về văn bản này</p>
<p align="center"><strong>Điều 16 </strong></p>
<p align="center"><strong>[Bản  sao vi phạm quy định: 1. Tịch thu; 2. Tịch thu khi nhập khẩu;</strong></p>
<p align="center"><strong> 3. Luật áp dụng]</strong></p>
<p>1. Mọi tác phẩm phi  pháp có thể bị tịch thu ở những quốc gia là thành viên Liên hiệp, nơi   nguyên tác được hưởng sự bảo hộ của luật pháp.</p>
<p>2. Những quy định ở khoản trên cũng  áp dụng cho những bản sao nhập từ một quốc gia mà ở đó tác phẩm không  được bảo hộ, hoặc đã ngừng được bảo hộ.</p>
<p>3. Việc tịch thu thực hiện theo luật  pháp của mỗi quốc gia.</p>
<p align="center"><strong>Điều 17</strong></p>
<p align="center"><strong>[Khả năng kiểm sóat sự  lưu thông, trình bày, triển lãm tác phẩm]</strong></p>
<p>Những quy định  của Công ước này không được vi phạm bất kỳ dưới hình thức nào quyền của  Chính phủ của mỗi nước thành viên Liên hiệp trong việc cho phép hoặc  kiểm soát hay cấm chỉ, bằng các biện pháp thuộc lập pháp hay hành pháp  của quốc gia, sự lưu hành, trình diễn hay triển lãm những tác phẩm hoặc  sản phẩm này mà nhà chức trách thấy cần phải sử dụng quyền đó.</p>
<p align="center"><strong>Điều 18</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Tác phẩm tồn tại khi  Công ước bắt đầu có hiệu lực: 1. Có thể được bảo</strong></p>
<p align="center"><strong> hộ  khi sự bảo hộ chưa chấm dứt tại quốc gia gốc; 2. Không thể được bảo hộ  khi sự bảo hộ đã hết hạn tại nước công bố bảo hộ; 3. áp dụng các nguyên  tắc này; Các trường hợp đặc biệt]</strong></p>
<p>1. Công ước này, vào thời điểm bắt  đầu có hiệu lực, áp dụng cho tất cả những tác phẩm chưa được phổ biến  tới công chúng khi hết hạn thời gian bảo hộ trước đó.</p>
<p>2. Tuy nhiên, nếu hết hạn về thời  gian bảo hộ trước đó mà tác phẩm đã được phổ biến tới công chúng ở nước  công bố bảo hộ, thì tác phẩm đó không được bảo hộ trở lại.</p>
<p>3. Việc áp dụng nguyên  tắc trên phải tuân thủ những Điều khoản có liên quan, trong các Hiệp  định đặc biệt hiện hành hoặc được ký kết giữa các quốc gia thành viên  Liên hiệp. Nếu quốc gia nào không có những Điều khoản như vậy thì phải  quy định cho riêng mình những thể thức để áp dụng nguyên tắc đó.</p>
<p>4. Những quy định nói  trên cũng được áp dụng cho những quốc gia mới tham gia Liên hiệp hoặc  cho trường hợp kéo dài bảo hộ theo quy định của Điều 7 hoặc quy định về  bãi bỏ sự bảo lưu.</p>
<p align="center"><strong>Điều 19</strong></p>
<p align="center"><strong>[Sự bảo hộ lớn hơn so với sự bảo hộ  của Công ước]</strong></p>
<p>Những quy định của Công ước không  ngăn cản việc đòi hỏi được hưởng sự bảo hộ lớn hơn mà luật pháp của một  Quốc gia Liên hiệp ban hành.</p>
<p align="center"><strong>Điều 20</strong></p>
<p align="center"><strong>[Hiệp định riêng giữa các quốc gia  thuộc Liên Hiệp]</strong></p>
<p>Chính phủ các quốc gia thành viên  Liên hiệp được dành quyền ký kết với nhau những thoả hiệp riêng nhằm  mang lại cho tác giả những quyền lớn hơn so với những quyền do Công ước  quy định, hoặc xác lập những điều khoản không trái ngược với Công ước.  Những quy định trong các thỏa hiệp hiện hành nếu thỏa mãn các điều kiện  nói trên vẫn được tiếp tục áp dụng.</p>
<p align="center"><strong>Điều 21</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Những qui định đặc biệt đối với  nước đang phát triển: 1. Phụ lục; 2. Phụ lục của Đạo luật]</strong></p>
<p>1. Những quy định  đặc biệt dành cho các nước đang phát triển được ghi trong Bản Phụ lục.</p>
<p>2. Theo quy định ở Điều 28.1.b. Phụ  lục là một thành phần thống nhất của Đạo luật này</p>
<p align="center"><strong>Điều  22</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Hội đồng: 1. Thành lập và thành phần; 2. Nhiệm vụ; 3. Số thành viên tối  thiểu hợp lý; bỏ phiếu; quan sát viên; 4. Triệu tập họp; 5. Nội qui]</strong></p>
<p>1(a). Liên Hiệp thành  lập một Hội đồng bao gồm những nước thành viên bị ràng buộc bởi các Điều  khoản từ 22 đến 26.</p>
<p>(b). Chính phủ của mỗi  nước có một đại diện, một số trợ lý cho đại diện,  cố vấn  và  chuyên gia.</p>
<p>(c). Kinh phí của mỗi phái đoàn sẽ  do Chính phủ  bổ nhiệm phái đoàn đài thọ.</p>
<p>2(a). Hội đồng có trách  nhiệm:</p>
<p>i.  Xem xét mọi vấn đề liên quan đến việc duy trì và phát triển Liên hiệp  cũng như việc áp dụng Công ước này;</p>
<p>ii. Chỉ đạo Văn Phòng Quốc tế về sở  hữu trí tuệ (từ đây gọi tắt là &#8220;<em>Phòng Quốc tế</em>&#8220;)  được nói đến trong Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới  (từ đây gọi tắt là Tổ chức) chuẩn bị nội dung cho những hội nghị nghiên  cứu sửa đổi Công ước sau khi đã tham khảo những ý kiến của các nước  thành viên Liên hiệp không bị ràng buộc bởi các Điều khoản từ 22 đến 26.</p>
<p>iii. Xét duyệt  báo cáo và hoạt động của Tổng giám đốc của Tổ chức có liên quan đến Liên  hiệp và chỉ đạo Tổng giám đốc giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền  của Liên hiệp;</p>
<p>iv. Bầu các thành viên của Ban chấp hành Hội đồng;</p>
<p>v. Xét duyệt báo cáo và  hoạt động của Ban chấp hành và chỉ đạo hoạt động của Ban chấp hành;</p>
<p>vi. Hoạch định  chương trình và thông qua ngân sách &#8220;<em>hai năm</em>&#8221; của  Liên hiệp, xét duyệt bản kết toán;</p>
<p>vii. Thông qua những quy định về tài  chính của Liên hiệp;</p>
<p>viii. Thành lập các ban chuyên gia  và các nhóm làm việc cho Liên hiệp;</p>
<p>ix. Xác định những nước không phải  thành viên Liên hiệp, các tổ chức liên quốc gia và các tổ chức quốc tế  phi chính phủ được mời dự các cuộc họp của Hội đồng với tư cách là quan  sát viên;</p>
<p>x. Thông qua các sửa đổi liên quan đến các Điều khoản từ 22 đến  26;</p>
<p>xi.  Xem xét các biện pháp hoạt động nhằm đạt các mục tiêu của Liên hiệp;</p>
<p>xii. Thực thi các  chức năng thích hợp của Công ước;</p>
<p>xiii. Tuân thủ sự chấp nhận và thực  thi những quyền hạn mà Tổ chức trao cho Hội đồng.</p>
<p>(b) Về các vấn đề có  liên quan đến quyền lợi của các Liên hiệp khác do Tổ chức điều hành, Hội  đồng sẽ quyết sau khi đã nghe ý kiến tư vấn của Ban điều phối  của  Tổ chức.</p>
<p>3(a)  Mỗi thành viên của Hội đồng sẽ được sử dụng một phiếu bầu.</p>
<p>(b) Một  nửa số thành viên Hội đồng sẽ tạo nên số đại biểu tối thiểu cần thiết để  tiến hành biểu quyết.</p>
<p>(c) Mặc dầu có những  quy định ở khoản (b), nếu trong một khoá họp, số đại biểu ít hơn một  phần nửa nhưng lại bằng hay quá một phần ba tổng số các nước thành viên  của Hội đồng thì Hội đồng có thể ra quyết định; Tuy nhiên, trừ các quyết  định liên quan đến thủ tục của các Hội đồng, tất cả các quyết định khác  sẽ chỉ có hiệu lực khi các điều kiện sau đây được thoả mãn: Phòng Quốc  tế sẽ thông báo các quyết định nói trên cho các nước hội viên của Hội  đồng không tham gia kỳ họp đó và yêu cầu các nước này biểu quyết bỏ  phiếu hay bỏ phiếu trắng trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày ghi trên  thông báo. Nếu hết thời hạn đó, số các nước biểu quyết bỏ phiếu hay bỏ  phiếu trắng như trên đạt được ít nhất con số còn thiếu để phiên họp đạt  số đại biểu tối thiểu, thì những quyết định trên sẽ có hiệu lực miễn là  có đa số phiếu thuận cần có.</p>
<p>(d) Ngoài những quy  định ở Điều 26(2), các quyết định của Hội đồng phải đạt hai phần ba số  phiếu bầu.</p>
<p>(e) Phiếu trắng sẽ không được coi là phiếu bầu.</p>
<p>(f) Một  đại biểu chỉ có thể đại diện một nước và bỏ phiếu nhân danh nước đó.</p>
<p>(g) Các  nước Liên hiệp nếu không phải là thành viên của Hội đồng sẽ được tham  gia các cuộc họp của Hội đồng với tư cách là quan sát viên.</p>
<p>4(a) Hội đồng sẽ họp  khoá thường kỳ ba năm một lần theo triệu tập của Tổng giám đốc và trừ  trường hợp đặc biệt, sẽ họp vào cùng một thời gian và ở cùng một địa  điểm với Đại hội đồng của Tổ chức.</p>
<p>(b) Hội đồng sẽ họp  khoá bất thường theo triệu tập của Tổng giám đốc, thể theo yêu cầu của  Ban Chấp hành hoặc yêu cầu của một phần tư số các nước thành viên của  Hội đồng.</p>
<p>5.  Hội đồng sẽ thông qua những quy định của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều  23</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Ban điều hành: 1. Thành lập; 2. Thành phần; 3. Số lượng thành viên; 4.  Phân bổ địa lý; thoả thuận đặc biệt; 5. Thời hạn; hạn chế tái cử; quy  tắc lựa chọn; 6. Nhiệm vụ; 7. Triệu tập họp; 8. Số lượng tối thiểu hợp  lệ; 9. Quan sát viên; 10. Nội quy]</strong></p>
<p>1. Hội đồng thành lập  một Ban chấp hành</p>
<p>2(a). Ban chấp hành gồm  các nước được Hội đồng bầu ra trong số các nước thành viên của Hội  đồng. Ngoài ra, nước nơi Tổ chức đặt trụ sở, đương nhiên giữ một ghế  trong Ban chấp hành, trừ trường hợp quy định ở Điều 25.7.b.</p>
<p>(b) Chính phủ của mỗi  nước thành viên của Ban chấp hành được cử một đại diện. Đại biểu này có  thể có trợ lý, cố vấn và chuyên gia.</p>
<p>(c) Kinh phí của đoàn đại biểu sẽ do  chính phủ đã bổ nhiệm đoàn đài thọ.</p>
<p>3. Số các nước thành viên Ban chấp  hành sẽ tương đương với một phần tư số các nước thành viên của Hội đồng.  Khi xác định số ghế được bầu thì sau khi chia bốn, con số dư còn lại  coi như không tính.</p>
<p>4. Khi bầu thành viên của Ban chấp  hành, Hội đồng sẽ lưu tâm tới sự phân phối quân bình theo địa lý cũng  như sự cần thiết có mặt trong Ban chấp hành những nước có ký thoả hiệp  riêng với nhau liên quan đến Liên hiệp.</p>
<p>5(a). Nhiệm kỳ của mỗi thành viên  của Ban chấp hành bắt đầu từ cuối kỳ họp mà Hội đồng đã bầu thành viên  đó cho đến lúc kết thúc khoá họp thường kỳ tiếp theo của Hội đồng.</p>
<p>(b) Những  thành viên của Ban chấp hành có thể được tái cử, nhưng số tái cử không  được quá hai phần ba số thành viên.</p>
<p>(c) Hội đồng sẽ quy  định các thể thức bầu cử và tái cử các thành viên Ban chấp hành, nếu  cần.</p>
<p>6(a).  Ban chấp hành có trách nhiệm:</p>
<p>i. Dự thảo chương trình nghị sự của  Hội đồng;</p>
<p>ii. Đệ trình lên Hội đồng các đề nghị liên quan đến dự thảo  chương trình hoạt động và ngân sách hai năm của Liên hiệp đã được Tổng  giám đốc chuẩn bị;</p>
<p>iii. (bỏ)</p>
<p>iv. Đệ trình lên Hội  đồng và cho ý kiến về các báo cáo định kỳ của Tổng giám đốc, cũng như  những báo cáo thường niên về việc kiểm toán tài khoản;</p>
<p>v. Phát huy mọi biện  pháp cần thiết để Tổng giám đốc thực hiện đúng đắn chương trình của Liên  hiệp phù hợp với các quyết định của Hội đồng và thích ứng với mọi tình  huống nảy sinh giữa hai khoá họp thường kỳ của Hội đồng;</p>
<p>vi. Hoàn thành mọi  trách nhiệm khác được giao phó trong phạm vi của Công ước này.</p>
<p>(b) Về các vấn đề có  liên quan đến các Liên hiệp khác do Tổ chức điều hành, Ban chấp hành sẽ  quyết định sau khi nghe ý kiến tư vấn của Uỷ Ban điều phối của Tổ chức;</p>
<p>7(a). Ban chấp hành sẽ  họp khoá thường kỳ mỗi năm một lần do Tổng giám đốc triệu tập. Cuộc họp  nên tiến hành cùng một lúc và cùng một địa điểm với Ban điều phối   của Tổ chức;</p>
<p>(b) Ban chấp hành họp khoá bất  thường khi có triệu tập của Tổng giám đốc, do chính Tổng giám đốc đề  xướng, hoặc theo yêu cầu của Chủ tịch Ban chấp hành hoặc của một phần tư  số thành viên trong Ban chấp hành.</p>
<p>8(a). Mỗi nước thành viên Ban chấp  hành được sử dụng một phiếu bầu.</p>
<p>(b) Một nửa số thành  viên Ban chấp hành tạo nên số đại biểu cần thiết để tiến hành biểu  quyết.</p>
<p>(c) Các quyết định sẽ được biểu quyết theo đa số tương đối của  các phiếu bầu.</p>
<p>(d) Phiếu trắng sẽ không được coi là phiếu bầu.</p>
<p>(e) Một  đại biểu chỉ có thể đại diện cho một nước và bỏ phiếu nhân danh nước đó.</p>
<p>9. Các nước thành viên  Liên hiệp không phải là thành viên của Ban chấp hành được quyền tham dự  các cuộc họp của Ban chấp hành với tư cách quan sát viên.</p>
<p>10. Ban chấp hành thông  qua những quy định của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều 24</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Phòng Quốc tế: 1.  Nhiệm vụ chung; Tổng giám đốc; 2. Thông tin chung; 3. Tạp chí; 4. Thông  tin tới các nước; 5. Nghiên cứu và dịch vụ; 6. Tham dự họp; 7. Hội nghị  nghiên cứu sửa đổi; Các nhiệm vụ khác]</strong></p>
<p>1(a). Các nhiệm vụ hành  chính của Liên hiệp  do Phòng Quốc tế đảm nhiệm. Phòng này  kế thừa Văn phòng Liên hiệp, phối hợp với Văn phòng của Liên hiệp được  thiết lập bởi Công ước quốc tế về  bảo hộ sở hữu công  nghiệp.</p>
<p>(b). Phòng Quốc tế  chủ yếu phụ trách công việc văn phòng cho các cơ quan của Liên hiệp.</p>
<p>(c).  Tổng giám đốc của Tổ chức là vị công chức cao cấp nhất của Liên hiệp và  là đại diện của Liên hiệp.</p>
<p>2. Phòng Quốc tế  thu  thập và phổ biến các thông tin liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả.  Mỗi nước thành viên Liên hiệp thông báo kịp thời cho Phòng Quốc tế tất  cả các luật lệ mới cũng như các văn bản chính thức liên quan đến việc  bảo hộ quyền tác giả.</p>
<p>3. Phòng Quốc tế  xuất  bản một tạp chí định kỳ hàng tháng.</p>
<p>4. Phòng Quốc tế  cung  cấp cho các nước thành viên Liên hiệp, nếu họ yêu cầu, những thông tin  về các vấn đề có liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả.</p>
<p>5. Phòng Quốc tế sẽ  tiến hành nghiên cứu và cung cấp dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho việc bảo  hộ quyền tác giả.</p>
<p>6. Tổng giám đốc và những nhân viên  do Tổng giám đốc chỉ định được tham gia, nhưng không có quyền  bỏ  phiếu, vào tất cả các cuộc họp của Hội đồng, của Ban chấp hành và của  các ban chuyên gia hay nhóm công tác. Tổng giám đốc hay nhân viên do  Tổng giám đốc chỉ định đương nhiên là thư ký của các cơ quan này.</p>
<p>7 (a). Phòng Quốc tế  chịu trách nhiệm chuẩn bị các Hội nghị để nghiên cứu sửa đổi các điều  khoản khác của Công ước ngoài các Điều từ 22 đến 26,  theo  chỉ thị của Hội đồng và với sự cộng tác của Ban chấp hành.</p>
<p>(b).  Phòng Quốc tế có thể tham khảo ý kiến các Tổ chức liên chính phủ và các  Tổ chức quốc tế phi chính phủ về việc chuẩn bị các hội nghị nghiên cứu  sửa đổi.</p>
<p>(c). Tổng giám đốc và những người do Tổng giám đốc chỉ định được  tham gia nhưng không có quyền bỏ phiếu vào các cuộc thảo luận ở các Hội  nghị đó.</p>
<p>8.  Phòng Quốc tế thi hành bất kỳ nhiệm vụ nào khác được giao.</p>
<p align="center"><strong>Điều  25</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Tài chính: 1. Ngân sách; 2. Phối hợp với các Liên hiệp khác; 3. Nguồn;  4. Nguồn thu; khả năng tăng thêm ngân sách năm trước; 5. Lệ phí và khoản  thu; 6. Quỹ hoạt động; 7. Ưu đãi của Chính phủ nước chủ nhà; 8. Kiểm  toán]</strong></p>
<p>1(a). Liên hiệp có ngân sách riêng.</p>
<p>(b).  Ngân sách của Liên hiệp gồm số thu và số chi riêng của Liên hiệp cùng  với phần đóng góp của Liên hiệp vào ngân sách chi tiêu chung của các  Liên hiệp, và khi cần sẽ có một khoản ngân sách dành cho Hội nghị của Tổ  chức.</p>
<p>(c).  Các khoản chi tiêu chung của các Liên hiệp không chỉ có những khoản chi  tiêu dành riêng cho một mình Liên hiệp mà còn cả các khoản dành cho một  hoặc nhiều Liên hiệp khác cùng do Tổ chức điều hành. Phần của Liên hiệp  trong các khoản chi tiêu chung cân xứng với những lợi ích do sự chi  tiêu này mang lại cho Liên hiệp.</p>
<p>2. Ngân sách của Liên hiệp được  hoạch định theo những đòi hỏi thích đáng về sự phối hợp các ngân sách  của các Liên hiệp khác cùng do Tổ chức điều hành.</p>
<p>3. Nguồn ngân sách của  Liên hiệp:</p>
<p>i. Những đóng góp của các nước thành viên Liên hiệp;</p>
<p>ii. Các phí và  các khoản thù lao thu được qua dịch vụ của Phòng Quốc tế đối với Liên  hiệp;</p>
<p>iii. Tiền bán và tiền  bản quyền của các ấn phẩm của Phòng Quốc tế có liên quan đến Liên hiệp;</p>
<p>iv. Quà biếu,  tặng theo chúc thư và tiền trợ cấp;</p>
<p>v. Tiền cho thuê,  lợi  tức và thu nhập từ nhiều khoản khác.</p>
<p>4(a). Nhằm mục đích phân bổ sự đóng  góp của các nước thành viên cho ngân sách, mỗi nước thành viên của Liên  hiệp được xếp loại vào một nhóm và đóng góp niên liễm hàng năm trên cơ  sở số đơn vị được ấn định như sau:</p>
<p>Hạng 1: 25</p>
<p>Hạng 2: 20</p>
<p>Hạng 3: 15</p>
<p>Hạng 4: 10</p>
<p>Hạng 5: 5</p>
<p>Hạng 6: 3</p>
<p>Hạng 7: 1</p>
<p>(b). Nếu chưa được xếp  hạng, mỗi nước khi nộp văn bản phê chuẩn hay gia nhập, nêu rõ mình muốn  được xếp vào hạng nào. Thứ hạng có thể thay đổi. Nếu muốn chọn một hạng  thấp hơn thì phải thông báo cho Hội đồng biết vào một trong các khoá họp  thường kỳ của Hội đồng. Sự thay đổi có hiệu lực vào đầu năm sau kỳ họp  đó.</p>
<p>(c).  Niên liễm của mỗi nước là một khoản tiền có tỷ lệ với số đơn vị tính  cho nước đó trong tổng số tiền do tất cả các nước đóng góp vào ngân sách  hàng năm, tương đương với tỷ lệ giữa các số đơn vị của thứ hạng nước đó  chọn với tổng số các đơn vị của tất cả các nước.</p>
<p>(d). Kỳ hạn đóng góp là  ngày 1 tháng 1 mỗi năm.</p>
<p>(e). Nước không đóng góp niên liễm  của mình thì sẽ không được bỏ phiếu ở bất kỳ cơ quan nào của Liên hiệp  mà nước đó là thành viên, nếu số tiền còn thiếu đó tương đương hoặc lớn  hơn số niên liễm nước đó phải đóng trong hai năm vừa qua. Tuy nhiên, bất  kỳ một cơ quan nào của Liên hiệp đều có thể cho phép nước đó tiếp tục  được bỏ phiếu ở cơ quan đó, nếu cơ quan đó chấp nhận rằng sự đóng góp  chậm trễ là do hoàn cảnh đặc biệt và không thể tránh khỏi.</p>
<p>(f). Trong trường hợp  một ngân sách chưa được thông qua trước khi bắt đầu tài khoá mới, thì  ngân sách năm trước sẽ tiếp tục được áp dụng theo đúng thể thức tài  chính.</p>
<p>5.  Bản khai phí và chi phí dịch vụ do Phòng Quốc tế chuyển lên Liên hiệp  phải được Tổng giám đốc duyệt và báo cáo lên Hội đồng và Ban chấp hành.</p>
<p>6(a). Liên hiệp có một  quỹ hoạt động do các nước thuộc Liên hiệp đóng góp. Nếu quỹ không đủ chi  thì Hội đồng sẽ quyết định tăng mức đóng góp.</p>
<p>(b). Khoản đóng góp ban  đầu hoặc sau khi tăng cho quỹ nói trên của mỗi nước sẽ tỷ lệ với phần  đóng góp của nước đó trong năm thành lập quỹ hoặc sau khi quyết định  tăng mức đóng góp.</p>
<p>(c). Tỷ lệ và thể thức đóng tiền do  Hội đồng quy định theo đề nghị của Tổng giám đốc và sau khi nghe ý kiến  tư vấn của Uỷ ban điều phối của Tổ chức.</p>
<p>7(a). Trong Hiệp định về trụ sở được  ký kết với nước sở tại của Tổ chức quy định rằng, nếu quỹ hoạt động  không đủ chi, nước sở tại sẽ tạm ứng một số tiền. Mức tiền ứng trước và  điều kiện tạm ứng được quy định trong thoả thuận riêng giữa nước sở tại  và Tổ chức. Chừng nào nước sở tại còn có nhiệm vụ ứng tiền trước, thì  nước đó đương nhiên có một ghế trong Ban chấp hành.</p>
<p>(b). Nước nói ở điểm  (a)và Tổ chức đều có quyền tuyên bố bãi bỏ cam kết tạm ứng bằng một văn  bản. Việc bãi bỏ có hiệu lực sau ba năm kể từ cuối năm đưa ra thông báo  bãi bỏ.</p>
<p>8.  Việc kiểm toán tài khoản được tiến hành theo quy định tài chính bởi một  hoặc nhiều nước Liên hiệp, hoặc bởi chuyên gia kiểm toán bên ngoài do  Hội đồng chỉ định, với sự chấp nhận của đương sự.</p>
<p align="center"><strong>Điều  26</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Sửa đổi: 1. Các điều thuộc quyền sửa đổi của Hội đồng; đề nghị ; 2.  Thông qua; </strong></p>
<p align="center"><strong>3. Có hiệu lực]</strong></p>
<p>1. Các đề nghị sửa đổi  các Điều 22, 23, 24, 25 và Điều này có thể  do bất kỳ nước  thành viên Hội đồng nào hoặc do Ban chấp hành hoặc do Tổng giám đốc đưa  ra. Những đề nghị này sẽ được Tổng giám đốc thông báo cho các nước thành  viên của Hội đồng ít nhất là sáu tháng trước khi đưa ra Hội đồng xem  xét.</p>
<p>2. Mọi sửa đổi các Điều nói ở khoản  (1) sẽ do Hội đồng thông qua. Để được thông qua phải đạt ba phần tư số  phiếu bầu, riêng những sửa đổi Điều 22 và khoản này muốn được thông qua  phải đạt bốn phần năm phiếu bầu nhất trí.</p>
<p>3. Mọi sửa đổi ở các Điều nói ở  khoản (1)  có hiệu lực một tháng sau khi Tổng giám đốc nhận  được các văn bản thông báo chấp thuận của ba phần tư số nước thành viên  của Hội đồng vào thời điểm thông qua những điểm sửa đổi, theo đúng với  quy định của từng nước. Mọi sửa đổi các Điều  nói trên, một  khi được chấp thuận sẽ ràng buộc tất cả các nước đã là thành viên của  Hội đồng vào thời điểm sự thay đổi đó có hiệu lực hoặc sẽ là thành viên  sau đó. Riêng những thay đổi về việc tăng các nghĩa vụ tài chính cho các  nước Liên hiệp thì chỉ ràng buộc những nước đã thông báo rằng mình chấp  thuận sửa đổi đó.</p>
<p align="center"><strong>Điều 27</strong></p>
<p align="center"><strong>[Sửa đổi: 1. Mục đích; 2, Hội nghị;  3. Thông qua]</strong></p>
<p>1. Công ước này có thể được đệ trình  để nghiên cứu sửa đổi với mục đích cải tiến kiện toàn hệ thống của Liên  hiệp.</p>
<p>2. Với mục đích này Hội nghị đại  biểu của các Liên hiệp sẽ lần lượt họp tại một trong những nước Liên  hiệp.</p>
<p>3.  Ngoài những quy định ở Điều 26 áp dụng cho việc sửa đổi các khoản từ 22  đến 26, bất kỳ sự điều chỉnh nào trong Đạo luật này, kể cả Phụ lục, phải  đạt được sự nhất trí của các phiếu bầu.</p>
<p align="center"><strong>Điều  28</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Chấp thuận và bắt đầu có hiệu lực của Đạo luật đối với các nước thuộc  Liên hiệp: 1. Phê chuẩn, gia nhập; khả năng loại trừ một số qui định;  bãi bỏ loại trừ; 2. Có hiệu lực của các Điều từ 1-21 và Phụ lục; 3. Có  hiệu lực các Điều từ 22-38]</strong></p>
<p>1(a). Bất kỳ nước nào trong Liên  hiệp đã ký Đạo luật này đều có thể phê chuẩn Đạo luật, và nếu chưa ký,  có thể gia nhập Đạo luật. Các văn bản phê chuẩn hay gia nhập đều phải  gửi cho Tổng giám đốc.</p>
<p>(b) Mọi nước  thành viên của Liên hiệp đều có quyền tuyên bố trong văn bản phê chuẩn  hoặc gia nhập của mình rằng sự phê chuẩn hay gia nhập đó không áp dụng  cho các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục. Trong trường hợp nước đó trước đây  đã có tuyên bố về Điều VI.(1) của Phụ lục thì chỉ cần tuyên bố lại trong  văn bản phê chuẩn hay gia nhập của mình rằng văn bản đó không áp dụng  cho các Điều từ 1 đến 20.</p>
<p>(c) Mọi nước thành viên của Liên  hiệp, theo như điểm (b), tuy trong văn bản phê chuẩn hay gia nhập đã  loại bỏ những điều khoản nói trên, nhưng sau này vẫn có thể tuyên bố lại  phê chuẩn hay gia nhập vào những điều khoản đó.</p>
<p>2(a). Các Điều từ 1 đến  21 và Phụ lục sẽ có hiệu lực ba tháng sau khi hai điều kiện sau đây  được thoả mãn:</p>
<p>i. Có ít nhất là 5 nước thành viên Liên hiệp đã phê chuẩn hoặc  gia nhập Đạo luật này mà không có tuyên bố về Đoạn 1(b);</p>
<p>ii. Các nước Pháp, Tây  Ban Nha, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc ái Nhĩ Lan, và Hợp chủng quốc  Hoa Kỳ đã bị ràng buộc bởi Công ước Thế giới về bản quyền đã được điều  chỉnh tại Pari ngày 24/7/1971.</p>
<p>(b) Việc có hiệu lực nói ở điểm (a)  áp dụng cho những nước Liên hiệp đã gửi văn bản phê chuẩn hay gia nhập  không có tuyên bố về khoản 1.(b), ít nhất là 3 tháng trước khi hiệu lực  nói trên bắt đầu.</p>
<p>(c) Đối với những thành viên của Liên hiệp không thuộc diện nói ở  điểm (b), khi phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này mà không có tuyên bố  về khoản 1(b), thì các Điều  từ 1 đến 21 và Phụ lục vẫn có  hiệu lực sau ba tháng tính từ ngày Tổng giám đốc thông báo việc gửi văn  bản phê chuẩn hay gia nhập nói trên, trừ khi trong văn bản của Tổng giám  đốc có ấn định một ngày khác. Trường hợp này các Điều từ 1 đến 21 và  Phụ lục có hiệu lực đối với nước đó kể từ ngày ghi trong văn bản.</p>
<p>(d) Các quy định của  đoạn từ điểm (a) đến (c) không ảnh hưởng tới việc áp dụng Điều VI của  Phụ lục.</p>
<p>3.  Đối với những nước thành viên của Liên hiệp đã phê chuẩn hay gia nhập  Đạo luật này dù có hoặc không có tuyên bố về Điều 1(b), các Điều từ 22  đến 38 sẽ có hiệu lực sau ba tháng tính từ ngày Tổng giám đốc thông báo  đã nhận được văn bản phê chuẩn hay gia nhập nói trên, trừ khi trong văn  kiện đó có ấn định một ngày khác sau thời hạn nói trên. Trong trường hợp  này các Điều  từ 22 đến 38 sẽ có hiệu lực đối với nước đó  kể từ ngày ghi trong văn bản.</p>
<p align="center"><strong>Điều 29</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Chấp thuận và có hiệu  lực đối với các nước ngoài Liên hiệp: 1. Gia nhập;  2. Có  hiệu lực]</strong></p>
<p>1. Các nước ngoài Liên hiệp có thể  gia nhập Đạo luật này, trở thành một bên của Công ước và trở thành viên  của Liên hiệp. Văn kiện gia nhập  gửi cho Tổng giám đốc.</p>
<p>2(a). Trừ trường hợp nói ở điểm (b)  dưới đây, Công ước này sẽ có hiệu lực đối với một nước ngoài Liên hiệp  sau ba tháng tính từ khi Tổng giám đốc thông báo đã nhận được văn bản  gia nhập của nước đó, trừ khi trong văn bản này có ấn định một ngày khác  sau thời hạn trên. Trong trường hợp này Công ước có hiệu lực đối với  nước đó kể từ ngày ghi trong văn bản.</p>
<p>(b) Nếu đoạn (a) bắt đầu có hiệu lực  trước các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục về Điều 28.2(a), thì nước nói  trên, trong khoảng cách giữa hai thời gian đó, sẽ bị ràng buộc bởi các  Điều từ 1 đến 20 của Đạo luật Bruxelles thay cho các Điều từ 1 đến 21 và  Phụ lục của Đạo luật này.</p>
<p align="center"><strong>Điều 29 (Bis)</strong></p>
<p align="center"><strong>[ ảnh hưởng của việc  chấp thuận Đạo luật nhằm áp dụng</strong></p>
<p align="center"><strong> Điều  14(2) của Công ước WIPO]</strong></p>
<p>Với mục đích duy nhất nhằm áp dụng  Điều 14.2 của Công ước thành lập Tổ chức, việc phê chuẩn hay gia nhập  Đạo luật này của một nước không bị ràng buộc bởi các Điều từ 22 tới 38  của Đạo luật Stockholm của Công ước này được coi là phê chuẩn hay gia  nhập Đạo luật Stockholm nói trên với những giới hạn nêu trong Điều  28.1.(b) (i) của Đạo luật đó.</p>
<p align="center"><strong>Điều 30</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Bảo lưu: 1. Các hạn chế khả năng  đưa ra bảo lưu; 2. Các bảo lưu trước; bảo lưu quyền dịch; rút lại bảo  lưu]</strong></p>
<p>1. Trừ những ngoại lệ ghi ở khoản 2 của Điều này, các Điều  28.1.(b); 33.2 và Phụ lục, việc phê chuẩn hay gia nhập hàm chứa sự chấp  thuận toàn vẹn các quy định và thừa hưởng tất cả những quyền lợi đã nói  trong Công ước này.</p>
<p>2(a). Mọi nước  trong Liên hiệp khi phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này, ngoài những quy  định của Điều V.(2) của Phụ lục đều có thể vẫn giữ quyền bảo lưu mà  nước đó đã đưa ra trước đây với điều kiện là phải tuyên bố điều đó khi  nộp văn bản phê chuẩn hay gia nhập của mình.</p>
<p>(b). Mọi  nước ngoài Liên hiệp khi gia nhập Công ước này, và tuân thủ quy định ở  Điều V.(2) của Phụ lục, đều có thể tuyền bố rằng mình quyết định, ít ra  là tạm thời, thay thế Điều 8 của Đạo luật này (liên quan đến quyền dịch)  bằng những quy định ở Điều 5 của Công ước của Liên hiệp năm 1886, được  hoàn thiện tại Paris năm 1896 trên cơ sở nhận thức rõ ràng rằng những  quy định nói trên chỉ áp dụng cho việc dịch sang một ngôn ngữ thông dụng  trong nước đó. Tuân thủ quy định ở Điều I,6,(b) của Phụ lục, mọi nước  đều có quyền áp dụng một sự bảo hộ tương đương với sự bảo hộ ở các nước  có bảo lưu nói trên đối với quyền dịch các tác phẩm có nước gốc là nước  áp dụng bảo lưu đó.</p>
<p>(c). Mỗi nước đều có  thể rút lại những bảo lưu nói trên bất kỳ lúc nào bằng một thông báo cho  Tổng giám đốc.</p>
<p align="center"><strong>Điều 31</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Khả năng áp dụng đối với một số  lãnh thổ: 1. Tuyên bố; 2. Rút lại tuyên bố; 3. Ngày có hiệu lực; 4. Chấp  thuận các thực trạng hiện hành không chủ định]</strong></p>
<p>1. Mỗi nước đều có thể  tuyên bố trong văn bản phê chuẩn hay gia nhập hoặc gửi thông báo lên  Tổng giám đốc vào bất cứ lúc nào, khẳng định rằng Công ước này sẽ áp  dụng cho toàn bộ hay một phần những lãnh thổ được nêu ra, để phục vụ cho  những quan hệ đối ngoại mà nước đó đảm nhiệm.</p>
<p>2.  Những nước đã tuyên bố hay gửi thông báo trên có thể, bất kỳ lúc nào,  thông báo cho Tổng giám đốc rằng Công ước này chấm dứt hiệu lực đối với  toàn bộ hay một phần những lãnh thổ đó.</p>
<p>3(a). Việc tuyên bố nói ở khoản 1 có  hiệu lực vào cùng ngày với sự phê chuẩn hay gia nhập có ghi lời tuyên  bố đó. Văn bản thông báo về khoản 1 có hiệu lực sau ba tháng tính từ khi  Tổng giám đốc thông báo điều đó.</p>
<p>(b). Những thông báo  nói ở khoản 2 sẽ có hiệu lực sau 12 tháng tính từ  khi Tổng  giám đốc nhận được thông báo.</p>
<p>4. Không thể coi Điều này có hàm ý  rằng mọi nước trong Liên hiệp đều chấp nhận hoặc mặc nhiên công nhận  thực trạng hiện hành của một lãnh thổ ở đó một nước khác của Liên hiệp  áp đặt việc áp dụng công ước này bằng một bản tuyên bố về khoản (1).</p>
<p align="center"><strong>Điều 32</strong></p>
<p align="center"><strong>[ áp dụng Đạo luật này và các Đạo  luật đã ký trước: 1. Giữa các nước đã là thành viên của Liên hiệp; 2.  Giữa nước trở thành thành viên của Liên hiệp và các nước thành viên khác  của Liên hiệp; 3. áp dụng Phụ lục trong mối quan hệ cụ thể]</strong></p>
<p>1. Đạo luật này thay thế Công ước Berne ký ngày 9/9/1886 và những  Đạo luật đã hiệu chỉnh sau đó, trong mối quan hệ giữa các nước Liên  hiệp và trong giới hạn Đạo luật này được áp dụng. Các Đạo luật đã có  hiệu lực trước đây vẫn tiếp tục được áp dụng hoặc toàn bộ hoặc trong  phạm vi những điều mà đạo luật này không thay thế, có liên quan các nước  thuộc Liên hiệp nhưng chưa phê chuẩn hoặc gia nhập Đạo luật này.</p>
<p>2. Những nước ngoài Liên hiệp khi  gia nhập Đạo luật này, tuân thủ những quy định ở khoản 3 dưới đây, áp  dụng Đạo luật này trong quan hệ với bất cứ nước thành viên nào của Liên  hiệp chưa bị ràng buộc bởi Đạo luật này hoặc đã bị ràng buộc nhưng đã có  tuyên bố về Điều 28 (1) (b). Các nước đó thừa nhận để các nước nói trên  thuộc Liên hiệp trong quan hệ với mình có thể:</p>
<p>i. áp dụng các Điều  khoản của Đạo luật mới nhất mà nước đó bị ràng buộc;</p>
<p>ii. Tuân thủ Điều I (6)  của Phụ lục, có quyền điều chỉnh mức bảo hộ cho phù hợp với quy định  của Đạo luật này</p>
<p>3. Một nước đã nhất trí với quy định trong Phụ lục, có thể áp  dụng các quy định đó đối với những lĩnh vực mình đã chọn, trong mối quan  hệ với những nước Liên hiệp khác chưa bị Đạo luật này ràng buộc, với  điều kiện là những nước đó đồng ý áp dụng những quy định nói trên.</p>
<p align="center"><strong>Điều 33</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Tranh chấp: 1. Thẩm quyền xét xử  của Toà án quốc tế; 2. Bảo lưu đối với thẩm quyền này; 3. Rút bảo lưu]</strong></p>
<p>1. Mọi tranh chấp  giữa hai hay nhiều nước thành viên Liên hiệp liên quan đến cách giải  thích hoặc áp dụng Công ước này mà không giải quyết được bằng thương  lượng, có thể một trong những nước hữu quan đưa ra Toà án công lý quốc  tế bằng cách nộp đơn khiếu nại theo đúng quy định của Toà án, trừ khi  các nước này thoả thuận tìm một cách giải quyết khác. Nước nguyên cáo sẽ  thông báo cho Phòng Quốc tế về những tranh chấp đã đưa ra Toà và Phòng  Quốc tế sẽ thông báo cho các nước thành viên Liên hiệp.</p>
<p>2. Mọi nước, khi ký kết hay đệ trình  văn bản phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật này, đều có thể tuyên bố mình  không chịu ràng buộc bởi những quy định ở khoản (1). Trong trường hợp  này, những tranh chấp giữa nước đó với những nước thành viên Liên hiệp  khác sẽ không áp dụng quy định ở khoản (1).</p>
<p>3. Một nước tuy  đã ra tuyên bố về quy định ở khoản 2 có thể, vào bất kỳ lúc nào, rút lại  tuyên bố đó bằng cách gửi thông báo cho Tổng giám đốc.</p>
<p align="center"><strong>Điều  34</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Chốt lại các qui định trước: 1. Các Đạo luật trước; 2. Nghị định thư của  Đạo luật Stockholm]</strong></p>
<p>1. Một khi các Điều từ 1 đến 21 và  Phụ lục bắt đầu có hiệu lực, tuân thủ quy định ở Điều 29 Bis, không một  nước nào có thể gia nhập hoặc phê chuẩn những Đạo luật trước đó của Công  ước.</p>
<p>2. Sau khi các Điều từ 1 đến 21 và  Phụ lục đã có hiệu lực, không nước nào có thể ra tuyên bố về Điều 5 của  Nghị định thư về các nước đang phát triển, phụ đính của Đạo luật  Stockholm.</p>
<p align="center"><strong>Điều 35</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Thời hạn của Công ước, rút khỏi  Công ước; 1. Không hạn định thời hạn; 2. Khả năng rút khỏi Công ước; 3.  Ngày có hiệu lực của việc rút khỏi Công ước; 4. Thời gian rút khỏi Công  ước]</strong></p>
<p>1. Công ước này có hiệu lực không hạn định về thời gian.</p>
<p>2. Mỗi nước có thể rút khỏi Đạo luật  này bằng việc gửi thông báo cho Tổng giám đốc. Sự rút lui này đồng thời  cũng là từ bỏ tất cả những Đạo luật trước đó và chỉ có hiệu quả đối với  nước rút lui, còn Công ước vẫn có hiệu lực và được thực thi đối với  những nước thành viên Liên hiệp khác.</p>
<p>3. Việc rút lui có hiệu lực sau một  năm tính từ ngày Tổng giám đốc nhận được bản thông báo.</p>
<p>4. Không một nước nào  được sử dụng khả năng rút lui quy định trong Điều này trước khi hết thời  hạn 5 năm kể từ ngày nước đó trở thành thành viên Liên hiệp.</p>
<p align="center"><strong>Điều 36</strong></p>
<p align="center"><strong>[ áp dụng Công ước: 1. Nghĩa vụ ban  hành các biện pháp cần thiết; 2. Thời điểm nghĩa vụ tồn tại]</strong></p>
<p>1. Mỗi nước thành viên  Liên hiệp sẽ cam kết ban hành những biện pháp cần thiết, phù hợp với  Hiến pháp của mình, nhằm đảm bảo việc áp dụng Công ước này.</p>
<p>2. Khi một nước bắt đầu bị ràng buộc  bởi Công ước này thì nước đó đã có đủ quyền hạn thực hiện các điều  khoản của Công ước này theo luật quốc gia của mình.</p>
<p align="center"><strong>Điều  37</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Điều khoản cuối cùng: 1. Ngôn ngữ của Đạo luật; 2. Ký kết; 3. Bản sao có  xác định; 4. đăng ký; 5. Thông báo]</strong></p>
<p>1(a). Đạo luật này được  ký thành một bản duy nhất bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, theo như quy  định ở khoản 2, sẽ được lưu chiểu nơi Tổng giám đốc.</p>
<p>(b). Các văn bản chính  thức sẽ được Tổng giám đốc thiết lập sau khi tham khảo ý kiến của các  Chính phủ có liên quan, bằng các thứ tiếng ả- Rập, Bồ Đào Nha, Đức, Tây  Ban Nha, Italia và bằng các thứ tiếng khác do Hội đồng chỉ định.</p>
<p>(c).  Trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến về cách giải thích các văn bản  khác nhau, văn bản tiếng Pháp được dùng làm văn bản chuẩn.</p>
<p>2. Đạo luật này để ngỏ  cho các nước ký cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1972. Đến ngày đó, văn bản  nói ở khoản 1(a) được lưu chiểu tại Chính phủ Cộng hoà Pháp.</p>
<p>3. Tổng giám đốc chuyển  hai bản sao có chứng thực sao y bản chính của văn bản đã được ký của  Đạo luật này cho Chính phủ của tất cả các nước thành viên Liên hiệp và  cho Chính phủ của các nước khác, nếu có yêu cầu.</p>
<p>4. Tổng giám đốc đăng  ký Đạo luật này với Ban thư ký của Liên Hợp Quốc.</p>
<p>5. Tổng giám đốc thông  báo cho Chính phủ của tất cả các nước thành viên Liên hiệp về các bên ký  kết, những lưu chiểu văn bản phê chuẩn hay gia nhập, và những tuyên bố  có trong các văn bản đó hoặc những tuyên bố về các Khoản 28.1 (c); 30.2  (a) và (b) và 32.2, sự bắt đầu có hiệu lực của các Điều của Đạo luật  này, những thông báo rút lui, những thông báo về các Điều 30.2 (c); 31  (1), (2); 33.3 và 38 (1) và những thông báo nói ở trong Phụ lục.</p>
<p align="right"><strong>Điều  38</strong></p>
<p align="right"><strong>[  Các quy định chuyển tiếp: 1. Thực thi </strong>“<strong> 5 năm độc quyền </strong>“ <strong>; 2. Văn phòng của Liên hiệp,  Giám đốc của văn phòng; 3. Kế thừa của văn phòng của Liên hiệp]</strong></p>
<p>1. Những nước  thành viên của Liên hiệp chưa phê chuẩn hay gia nhập Đạo luật và chưa bị  ràng buộc bởi các Điều từ 22 đến 26 của Đạo luật Stockholm, nếu muốn,  có thể thực thi cho tới ngày 26/4/1975 các quyền lợi được  quy  định trong các Điều nói trên như thể đã bị các Điều khoản đó ràng buộc.  Nước nào muốn thực thi những quyền lợi đó phải gửi đến Tổng giám đốc  một văn bản thông báo. Bản thông báo này có hiệu lực ngay sau khi nhận  được. Những nước đó sẽ được xem là thành viên của Hội đồng cho đến thời  hạn nói trên.</p>
<p>2. Chừng nào mà tất cả  các nước thành viên Liên hiệp chưa trở thành thành viên chính thức của  Tổ chức, thì Phòng Quốc tế của Tổ chức vẫn thực hiện chức năng là văn  phòng của Liên hiệp và Tổng giám đốc sẽ kiêm chức trưởng phòng của phòng  này.</p>
<p>3.  Một khi tất cả các nước thành viên Liên hiệp đã là thành viên của Tổ  chức thì các quyền lợi, nghĩa vụ và tài sản của Phòng Liên hiệp sẽ quy  tụ cả về Phòng Quốc tế của Tổ chức</p>
<p align="center"><strong>Phụ  lục</strong></p>
<p align="center"><strong>[Những điều khoản đặc biệt dành cho  các nước đang phát triển]</strong></p>
<p align="center"><strong>Điều I</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Lựa chọn dành cho các nước đang  phát triển: 1. Khả năng lựa chọn; công bố; 2. Thời hạn hiệu lực của bản  công bố; 3. Chấm dứt vị thế của nước đang phát triển; 4. Bản sao lưu  kho; 5. Tuyên bố liên quan đến  một số vùng lãnh thổ; Hạn  chế về sự có đi có lại]</strong></p>
<p>1. Những nước được coi là nước đang  phát triển theo tập quán của Đại Hội đồng Liên hiệp Quốc nếu thấy hiện  nay vì tình hình kinh tế cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội của mình  chưa đủ khả năng ngay lập tức đảm bảo thực hiện tất cả những quyền quy  định trong Đạo luật này, kèm theo Phụ lục như một thể thống nhất, thì  khi phê chuẩn hoặc gia nhập Đạo luật này, hoặc vào một thời điểm sau đó,  theo như quy định của Điều V(1)(c), phải gửi cho Tổng giám đốc một văn  bản tuyên bố là mình sẽ chỉ tuân thủ những quy định ở Điều II, hoặc Điều  III hoặc cả hai Điều đó. Nước đó cũng có thể ra tuyên bố theo quy định ở  Điều V(1)(a), thay cho tuyên bố tuân thủ những quy định ở Điều II.</p>
<p>2(a). Mọi tuyên bố theo quy định ở  khoản (1), được thông báo trước khi hết thời hạn 10 năm, tính từ ngày  bắt đầu có hiệu lực của những Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục này theo quy  định của Điều 28 (2), có giá trị cho đến hết thời hạn nói trên. Toàn bộ  hoặc một phần của tuyên bố đó có thể mỗi lần được gia hạn thêm 10 năm  tiếp theo, bằng một thông báo gửi cho Tổng giám đốc không quá 15 tháng  nhưng không ít hơn 3 tháng trước khi hết hạn 10 năm hiện hành.</p>
<p>(b) Mọi tuyên bố theo  quy định ở khoản (1) được thông báo sau khi hết thời hạn 10 năm tình từ  ngày bắt đầu có hiệu lực của các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục này theo  quy định của Điều 28 (2) có giá trị cho đến khi hết thời hạn 10 năm hiện  hành. Tuyên bố đó có thể được gia hạn như đã nói trong câu thứ hai của  điểm (a) trên đây.</p>
<p>3. Những nước thành viên Liên hiệp  khi không còn được coi là nước đang phát triển như đã nói trong khoản  (1) sẽ không còn quyền gia hạn tuyên bố của mình như đã quy định ở khoản  (2) và dù có chính thức rút lui tuyên bố ấy hay không, nước đó vẫn  không còn quyền sử dụng các quy định nêu trong khoản (1) kể từ ngày hết  hạn 10 năm hoặc sau khi hết thời hạn ba năm kể từ ngày nước đó không còn  được coi là nước đang phát triển. Hai thời hạn đó thời hạn nào dài hơn  sẽ được áp dụng.</p>
<p>4. Nếu vào thời điểm tuyên bố theo quy định ở khoản (1) hay (2)  không còn giá trị nữa, nhưng còn tồn tại một số phiên bản đã được sản  xuất nhờ vào giấy phép được cấp theo quy định của Phụ lục này, thì những  phiên bản đó sẽ được phép tiếp tục lưu hành cho đến khi hết.</p>
<p>5. Những nước bị ràng  buộc bởi những quy định của Đạo luật này và đã nộp một tuyên bố hay một  thông báo theo quy định của Điều 31(1) về việc áp dụng Đạo luật ở một  lãnh thổ nào đó có hiện trạng tương tự với hiện trạng các nước nói ở  khoản (1) đều có thể ra tuyên bố như đã nói ở khoản (1) và thông báo gia  hạn như đã nói ở khoản (2). Chừng nào những tuyên bố hay thông báo này  còn có giá trị thì các điều khoản của Phụ lục vẫn được áp dụng cho lãnh  thổ nói trên.</p>
<p>6(a). Một điều thực tế là khi một nước chấp nhận những quy định  nêu ra trong khoản (1) thường không cho phép một nước khác được giảm sự  bảo hộ dưới mức đã xác định theo các Điều từ 1 đến 20 đối với các tác  phẩm có nước gốc là nước đã nêu ở trên.</p>
<p>(b). Quyền đối xử có  đi có lại được quy định ở Điều 30 (2) (b), câu thứ hai, không được áp  dụng với các tác phẩm có nước gốc là nước đã ra tuyên bố về Điều V(1)(a)  cho đến khi hết thời hạn như quy định ở Điều I (3).</p>
<p align="center"><strong>Điều  II</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Hạn chế quyền dịch: 1. Giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp; 2. đến 4.  Điều kiện để cấp giấy phép; 5. Có thể cấp giấy phép cho những mục đích  nào; 6. Kết thúc giấy phép; 7. Tác phẩm chủ yếu bao gồm minh hoạ; 8. Tác  phẩm rút khỏi lưu hành; Giấy phép dành cho tổ chức phát sóng]</strong></p>
<p>1. Một nước khi đã  tuyên bố áp dụng quy định nêu trong Điều khoản này, đối với các tác phẩm  đã xuất bản dưới dạng in ấn hoặc các dạng sao in tương tự được phép  thay thế quyền dịch quy định trong Điều 8 bằng một quy chế cấp giấy phép  không độc quyền và bất khả nhượng, do cơ quan có thẩm quyền cấp, theo  các điều kiện dưới đây và phù hợp với Điều IV.</p>
<p>2(a).  Tuân thủ quy định ở khoản (3), sau khi mãn hạn 3 năm, hoặc một thời hạn  dài hơn do luật pháp quốc gia nói trên quy định, kể từ lần xuất bản đầu  tiên của tác phẩm, nếu người sở hữu quyền dịch không dịch hoặc không ủy  thác dịch tác phẩm đó sang một ngôn ngữ thông dụng trong nước đó, thì  bất kỳ công dân nào của nước nói trên đều có thể xin giấy phép để dịch  tác phẩm đó sang ngôn ngữ đã nói và xuất bản bản dịch dưới dạng in ấn  hay các dạng sao in tương tự.</p>
<p>(b). Giấy phép có thể cấp theo quy  định của Điều này, nếu tất cả những ấn bản của bản dịch sang thứ tiếng  nói trên đã tiêu thụ hết.</p>
<p>3(a). Trong trường hợp dịch sang một  thứ tiếng không thông dụng trong một hay nhiều nước phát triển thuộc  Liên hiệp, thì thời hạn chỉ là một năm, thay cho thời hạn ba năm quy  định ở khoản 2(a).</p>
<p>(b). Với sự chấp thuận của toàn bộ  các nước phát triển là thành viên Liên hiệp có cùng một ngôn ngữ thông  dụng chung, một nước nêu ở khoản (1) trên đây nếu muốn dịch một tác phẩm  sang ngôn ngữ đó, có thể thay thế thời hạn 3 năm nói trong khoản 2(a)  bằng một thời hạn ngắn hơn theo thoả thuận, tuy nhiên thời hạn này không  được dưới một năm. Tuy nhiên các điều khoản đưa ra trong câu trên đây  không áp dụng trong trường hợp ngôn ngữ đó là tiếng Anh, tiếng Pháp hay  tiếng Tây Ban Nha. Các Chính phủ ký kết những thoả thuận nói trên phải  thông báo cho Tổng giám đốc về những thoả thuận đó.</p>
<p>4(a). Những giấy phép  nói ở Điều này sẽ không được cấp trước khi hết một thời hạn phụ thêm là 6  tháng, nếu thời hạn chính để được cấp là 3 năm và là 9 tháng, nếu thời  hạn chính để được cấp là 1 năm và được tính</p>
<p>i.  từ  ngày người xin giấy phép hoàn thành các thủ tục nêu trong Điều IV(1),  hoặc là,</p>
<p>ii. nếu không xác định được danh tích và địa chỉ của người sở hữu  quyền dịch, thì kể từ ngày người xin gửi, theo quy định ở Điều IV(2)  các đơn xin phép lên cơ quan có thẩm quyền cấp phép.</p>
<p>(b).  Trong thời hạn 6 tháng hay 9 tháng nói trên, nếu một bản dịch sang thứ  tiếng đang xin, đã được người sở hữu quyền dịch hoặc người được ủy thác  xuất bản, thì không cấp thêm giấy phép nào nữa theo quy định của Điều  này.</p>
<p>5.  Giấy phép cấp theo Điều này chỉ được cấp để phục vụ giảng dạy, học tập  và nghiên cứu.</p>
<p>6. Nếu người sở hữu quyền dịch hoặc người được ủy thác đã xuất  bản bản dịch và bán với giá tương đương giá bán thông thường tại nước đó  đối với các tác phẩm tương tự, và nếu bản dịch đó là bản dịch ra cùng  thứ tiếng cùng một nội dung với bản dịch đã cho phép, thì bất cứ giấy  phép nào được cấp theo quy định của Điều này đều bị đình chỉ. Những bản  đã in ra trước khi đình chỉ giấy phép được phép tiếp tục phát hành cho  đến khi hết.</p>
<p>7. Đối với các tác phẩm mà phần chính là hình ảnh thì giấy phép  dịch và xuất bản dịch phần ngôn ngữ cũng như in lại và xuất bản các hình  ảnh chỉ có thể được cấp nếu các điều kiện nêu ra ở Điều III được thoả  mãn.</p>
<p>8.  Không được cấp một giấy phép nào theo Điều này một khi tác giả đã thu  hồi tất cả các phiên bản đã lưu hành của tác phẩm của mình.</p>
<p>9(a). Giấy phép dịch  một tác phẩm đã được xuất bản dưới hình thức in ấn hay sao in, có thể  vẫn được cấp cho một cơ quan phát sóng có trụ sở trong một nước nói ở  khoản (1) nếu cơ quan đó gửi đơn xin phép cơ quan có thẩm quyền trong  nước nói trên, với điều kiện phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:</p>
<p>i) Bản dịch phải  được dịch ra từ một ấn phẩm và ấn phẩm đó được mua một cách hợp pháp  theo quy định của luật pháp của nước nói trên;</p>
<p>ii) Bản dịch chỉ dùng  cho mục đích phát sóng phục vụ giảng dạy hoặc phổ biến các thông tin  khoa học, kỹ thuật tới các chuyên gia của một ngành cụ thể nào đó;</p>
<p>iii) Bản dịch đó  chỉ được phục vụ cho những mục đích nói ở đoạn (ii) thông qua các buổi  phát sóng hợp pháp và dành cho thính giả trên lãnh thổ của các nước nói  trên, kể cả việc phát sóng các bản ghi âm hay ghi hình hợp pháp, và chỉ  phục vụ mục đích phát sóng mà thôi;</p>
<p>iv) Các bản dịch đó đều không được  sử dụng cho mục đích thương mại.</p>
<p>b) Các bản ghi âm hay  ghi hình của một bản dịch do một cơ quan phát sóng thực hiện theo giấy  phép cấp theo quy định của khoản này theo mục đích và quy định của điểm  (a), và nếu cơ quan sở hữu cho phép, cũng có thể được sử dụng bởi bất kỳ  một cơ quan phát sóng nào khác có trụ sở trong nước mà cơ quan có thẩm  quyền đã cấp giấy phép đó.</p>
<p>c) Nếu đáp ứng được đầy đủ tất cả  các tiêu chuẩn và điều kiện nêu trong điểm (a) thì cũng có thể cấp giấy  phép cho một cơ quan phát sóng để dịch các văn bản có trong một tác phẩm  nghe nhìn nhằm phát hành với mục đích duy nhất là phục vụ giảng dạy các  cấp.</p>
<p>d)  Tuân thủ những quy định ở những điểm từ (a), đến (c), các quy định   ở các điểm khác trên được áp dụng để cấp và thực thi các giấy  phép được cấp theo quy định của khoản này.</p>
<p align="center"><strong>Điều  III</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Hạn chế quyền sao chép: 1. Giấy phép cơ quan có thẩm quyền có thể cấp;  2. đến 5. Điều kiện để cấp giấy phép; 6. Chấm dứt hiệu lực giấy phép; 7.  Tác phẩm thuộc phạm vi áp dụng của Điều này]</strong></p>
<p>1. Những nước đã đưa ra  tuyên bố công nhận các quy định trong Điều này sẽ được phép thay thế  quyền sao in theo qui định ở Điều 9 bằng một qui chế cấp phép không độc  quyền và bất khả nhượng, do cơ quan có thẩm quyền cấp với những điều  kiện dưới đây và phù hợp với Điều IV.</p>
<p>2(a). Nếu một tác phẩm  tuân thủ quy định của Điều này theo quy định ở khoản 7 sau khi đã hết  hạn:</p>
<p>i) quy định ở khoản 3, tính từ lần  xuất bản đầu tiên của tác phẩm, hoặc là</p>
<p>ii) hết một thời hạn  dài hơn do Luật pháp quốc gia nói ở khoản (1) quy định và cũng tính từ  ngày đó thì nếu ấn bản đó chưa được chính người giữ quyền sở hữu hoặc  người được ủy thác phát hành tới công chúng ở nước nói trên với giá  tương đương với giá bán thông thường tại nước đó đối với các tác phẩm  tương tự hoặc chưa đưa ra phục vụ giảng dạy có hệ thống, thì bất cứ  người dân nào của nước đó cũng có thể xin phép sao in và xuất bản ấn bản  đó để bán cùng một giá hoặc rẻ hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy một  cách có hệ thống.</p>
<p>b) Giấy phép có thể cấp theo những điều kiện quy định trong Điều  này để sao in và xuất bản một ấn bản đã được phát hành như đã nói ở điểm  (a) nếu trong vòng 6 tháng tính từ khi hết hạn không còn một ấn bản nào  để bán cho công chúng hoặc phục vụ nhu cầu giảng dạy có hệ thống với  giá tương đương với giá bán thông thường tại nước đó đối với các tác  phẩm tương tự.</p>
<p>3.Thời hạn nói ở khoản (2)(a)(i) là 5 năm. Trừ những trường hợp  sau đây:</p>
<p>i) Thời hạn đối với những tác phẩm khoa học tự nhiên kể cả toán  học và công nghệ là 3 năm.</p>
<p>ii) Đối với các tác phẩm khoa học  viễn tưởng, thơ ca, kịch, âm nhạc và các sách về nghệ thuật, thời hạn là  7 năm.</p>
<p>4(a).  Không cấp giấy phép sau 3 năm, theo quy định của Điều này nếu chưa hết  thời hạn 6 tháng</p>
<p>i) tính từ ngày người xin phép làm xong các thủ tục quy định ở  Điều IV(1) hoặc</p>
<p>ii) nếu không xác định được danh tích hay địa chỉ của người sở  hữu quyền tái bản, thì thời hạn 6 tháng được tính từ khi người xin phép  đã gửi đơn lên cơ quan có thẩm quyền cấp phép, theo quy định ở Điều  IV(2).</p>
<p>(b)  Trong những trường hợp khác và nếu Điều IV(2) được áp dụng thì giấy phép  không được cấp trước khi kết thúc thời gian chờ đợi là 3 tháng kể từ  ngày gửi đơn xin cấp phép.</p>
<p>(c) Trong thời gian 6 hoặc 3 tháng  chờ đợi theo qui định ở điểm (a) và (b) nếu tác phẩm được đem bán như đã  nói ở khoản 2(a) thì việc cấp phép theo Điều này bị đình chỉ.</p>
<p>(d) Việc cấp phép cũng  bị đình chỉ một khi tác giả đã thu hồi tất cả các ấn bản được phép sao  in và xuất bản.</p>
<p>5. Việc cấp phép sao in và xuất bản bản dịch một tác phẩm theo  Điều này cũng bị đình chỉ trong những trường hợp sau đây:</p>
<p>i) khi bản dịch đó  không phải do người sở hữu quyền dịch hoặc người được ủy thác xuất bản  hoặc</p>
<p>ii)  khi bản dịch không phải là ngôn ngữ thông dụng ở nước xin phép cấp giấy  phép.</p>
<p>6.  Nếu các ấn bản của một tác phẩm được người sở hữu quyền tái bản hoặc  người được ủy thác phát hành ở nước nói ở khoản (1) tới công chúng hoặc  phục vụ giảng dạy có hệ thống với một giá tương đương với giá bán thông  thường đối với những tác phẩm tương tự, thì mọi giấy phép đã được cấp  theo Điều này sẽ bị đình chỉ nếu ấn bản đó có cùng một ngôn ngữ và cùng  một nội dung như ấn bản được xuất bản theo giấy phép. Những ấn bản đã in  trước khi giấy phép bị đình chỉ được phép tiếp tục lưu hành cho đến khi  hết.</p>
<p>7(a).  Tuân thủ quy định ở điểm (b) những điều nói về các tác phẩm trong Điều  này chỉ áp dụng đối với các tác phẩm xuất bản dưới dạng in ấn hay sao in  tương tự.</p>
<p>(b) Điều này cũng áp dụng cho việc sao bản dưới  hình thức nghe nhìn những băng, phim thực hiện hợp pháp và được coi là  tác phẩm được bảo hộ. Nó cũng áp dụng cho việc dịch văn bản kèm theo  sang ngôn ngữ thông dụng trong nước xin giấy phép; với điều kiện các  băng, phim nói trên được thực hiện và xuất bản với mục đích duy nhất là  phục vụ giảng dạy có hệ thống.</p>
<p align="center"><strong>Điều IV</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Qui định chung đối  với giấy phép theo Điều II và III: 1. và 2. thủ tục; 3. Nêu tên tác giả  và tên tác phẩm; 4. Xuất khẩu bản sao; 5. Ghi chú; 6. Đền bù]</strong></p>
<p>1. Mọi giấy phép  đã nói ở Điều II và Điều III chỉ có thể được cấp nếu người xin phép theo  đúng các thể thức hiện hành ở nước hữu quan, minh chứng được rằng mình  đã xin sự ủy thác của người sở hữu quyền dịch và xuất bản, hoặc sao in  và xuất bản nhưng đã bị từ chối, hoặc là sau khi đã làm hết cách mà  không tìm được người sở hữu quyền đó. Đồng thời với việc xin phép, người  xin cũng phải thông báo cho bất cứ trung tâm thông tin quốc gia hay  quốc tế nào theo như quy định ở khoản 2.</p>
<p>2.  Nếu không tìm được với người sở hữu quyền, thì người xin phải gửi bảo  đảm máy bay bản sao các đơn từ đã nộp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy  phép, cho Nhà xuất bản có tên in trên tác phẩm, cũng như cho trung tâm  thông tin quốc gia hoặc quốc tế mà trung tâm này đã được Chính phủ của  nước nơi Nhà xuất bản đặt trụ sở hoạt động chỉ định bằng một thông báo  gửi cho Tổng giám đốc.</p>
<p>3. Tên tác giả phải được nêu rõ trên  tất cả các ấn phẩm dịch hay bản sao in được xuất bản theo giấy phép  theo quy định của Điều II hoặc Điều III. Tên tác phẩm phải được ghi trên  ấn phẩm. Nếu là bản dịch thì tên tác phẩm gốc cũng phải được ghi trên  ấn phẩm.</p>
<p>4(a).  Giấy phép cấp theo Điều II hay Điều III không quy định cho phép xuất  cảng ấn phẩm. Giấy phép chỉ có giá trị cho phép xuất bản các bản dịch  hoặc tái bản trong nội địa của quốc gia nơi giấy phép đã được cấp.</p>
<p>(b) Để làm rõ những quy  định ở điểm (a) khái niệm xuất cảng bao gồm cả việc gửi các ấn phẩm từ  một vùng lãnh thổ nào đó tới một nước đã tuyên bố tuân thủ Điều I(5).</p>
<p>(c) Khi một cơ quan  Chính phủ hay một công sở nào của nước đã cấp giấy phép theo Điều II để  dịch sang một thứ tiếng khác không phải là tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc  tiếng Tây Ban Nha, gửi các ấn phẩm dịch xuất bản theo giấy phép đó sang  một nước khác, thì việc gửi đó sẽ không bị coi là xuất cảng như đã nói ở  điểm (a), nếu như những điều kiện sau đây được thoả mãn:</p>
<p>i) người  nhận là các cá nhân, công dân của nước có cơ quan có thẩm quyền cấp giấy  phép nói trên, hoặc là những tổ chức có các công dân đó;ii) các ấn phẩm  đó chỉ phục vụ mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu;</p>
<p>iii) việc gửi các ấn  phẩm và việc phân phát cho các người nhận không phục vụ cho mục đích  thương mại; và,</p>
<p>iv) nước nhận các ấn phẩm đó đã ký một thoả ước với nước nơi có  cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép, để được quyền nhận hoặc phân  phát hoặc quyền vừa nhận vừa phân phát. Chính phủ của nước cấp giấy phép  đã thông báo lên Tổng giám đốc về Thoả ước đó.</p>
<p>5. Trên tất cả các ấn  phẩm xuất bản theo giấy phép cấp theo quy định của Điều II hay Điều III  đều phải ghi chú bằng thứ ngôn ngữ thích hợp, nêu rõ là các bản đó chỉ  được lưu hành ở nước hay lãnh thổ mà giấy phép nói trên quy định.</p>
<p>6(a). Những biện pháp  thích đáng được áp dụng trên bình diện quốc gia nhằm bảo đảm rằng:</p>
<p>i) giấy phép đó  mang lại cho người sở hữu quyền dịch hay quyền tái bản sự đền bù cân  xứng, với tiêu chuẩn nhuận bút phải trả cho tác giả trong trường hợp  những giấy phép được hai bên trong hai nước hữu quan tự do thoả thuận  với nhau;</p>
<p>ii) tiền đền bù được trả và chuyển đến tác giả. Nếu quốc gia đó  có sự hạn chế về trao đổi ngoại tệ thì cơ quan có thẩm quyền bằng mọi  cách vận dụng các guồng máy quốc tế nhằm đảm bảo việc chuyển tiền nhuận  bút bằng một ngoại tệ chuyển đổi được trên thị trường quốc tế hoặc bằng  loại tiền tương đương.</p>
<p>(b). Những biện pháp thích đáng sẽ  được áp dụng trên cơ sở luật pháp quốc gia để đảm bảo có được bản dịch  đúng, hoặc bản sao in chính xác của tác phẩm.</p>
<p align="center"><strong>Điều  V</strong></p>
<p align="center"><strong>[  Khả năng lựa chọn về hạn chế quyền dịch: 1. Chế độ qui định theo các Đạo  luật 1886 và 1896; 2. Không được chuyển đổi sang chế độ theo Điều II;  3. Thời hạn để xác định khả năng lựa chọn]</strong></p>
<p>1(a). Những nước được  quyền tuyên bố tuân thủ những quy định ở Điều II, khi phê chuẩn hay gia  nhập Đạo luật này, thay cho tuyên bố đó, có thể:</p>
<p>i)                                                          ra tuyên bố về quyền dịch theo quy  định của Điều 30(2) (a), nếu nước đó tuân thủ điều này</p>
<p>ii)                                                        ra tuyên bố như đã nói ở câu thứ  nhất của Điều 30(2)(b) nếu là một nước không áp dụng điều khoản  30(2)(a), hoặc nước đó không phải là một nước ngoài Liên hiệp.</p>
<p>(b). Trong trường hợp  một nước không còn được coi là nước đang phát triển theo điều I(1), việc  tuyên bố tuân thủ khoản này có hiệu lực cho đến khi hết thời hạn đã quy  định ở Điều I(3).</p>
<p>(c). Nước nào đã ra tuyên bố tuân  thủ khoản này cho dù nước đó có thu hồi tuyên bố này đi chăng nữa sau đó  cũng không được tuyên bố tuân thủ Điều II.</p>
<p>2. Tuân thủ quy định ở  khoản (3), nước nào đã tuyên bố tuân thủ Điều II thì sau đó không được  tuyên bố tuân thủ khoản 1 nữa.</p>
<p>3. Một nước khi không còn được coi  là nước đang phát triển theo Điều I(1) chậm nhất là hai năm trước khi  chấm dứt thời hạn quy định ở Điều I(3) có thể ra tuyên bố tuân thủ câu  đầu của Điều 30(2)(b) cho dù nước đó không phải là một nước thuộc Liên  hiệp. Tuyên bố này có hiệu lực ngay khi hết thời hạn quy định theo Điều  I(3).</p>
<p align="center"><strong>Điều VI</strong></p>
<p align="center"><strong>[ Khả năng áp dụng, hoặc cho phép áp  dụng đối với một số qui định của Phụ lục trước khi bị ràng buộc: 1.  Tuyên bố; 2. Nộp lưu chiểu và ngày hiệu lực của tuyên bố]</strong></p>
<p>1. Mỗi nước thuộc Liên  hiệp, kể từ ngày thông qua Đạo luật này và vào bất kỳ thời gian nào  trước đó khi bị ràng buộc bởi các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục này, đều  có thể tuyên bố:</p>
<p>i) Nếu là một  nước khi bị ràng buộc bởi các Điều từ 1 đến 21 và Phụ lục, được phép sử  dụng những khả năng nêu trong Điều I (1), có thể ra tuyên bố rằng mình  sẽ áp dụng những quy định ở Điều II hay Điều III, hoặc là cả hai, cho  những tác phẩm có nước gốc là một nước theo quy định ở điểm (ii) dưới  đây, với điều kiện nước này chấp nhận áp dụng các Điều khoản này cho  những tác phẩm đã nói, hoặc là một nước bị ràng buộc bởi các Điều khoản  từ 1 đến 21 và Phụ lục. Tuyên bố nói trên có thể làm theo quy định của  Điều V thay cho Điều II;</p>
<p>ii) ra tuyên bố rằng mình chấp  nhận để các nước đã tuyên bố tuân thủ điểm (i) trên đây hoặc đã thông  báo tuân thủ Điều I, áp dụng Phụ lục này cho những tác phẩm xuất xứ từ  nước mình.</p>
<p>2. Những tuyên bố tuân thủ khoản (1) phải là một văn bản và phải gửi  cho Tổng giám đốc. Tuyên bố đó sẽ có hiệu lực kể từ ngày nộp./.</p>
<hr size="3" /><strong>Công ước Berne đã  có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.congtytuvanluat.com/cong-uoc-berne-quy-dinh-ve-bao-ho-cac-tac-pham-van-hoc-khoa-hoc-va-nghe-thuat/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
